Ai rồi cũng lớn…

(KDPT) – Đã thành lệ, ba mươi tháng tư năm nào đại gia đình tôi cũng tề tựu đông đủ.

Trên nhà, ông Nội bày biện bàn thờ, bác cả cuốn lại chăn màn, dồn dịch bàn ghế
Những đứa trẻ, đứa lớn trông đứa bé, bày trò chơi với nhau ngoài sân để khỏi vướng chân.
Gà tác rang rác ngoài chuồng.
Thềm giếng, sát vườn rau, chiếc ròng rọc thi thoảng lại rít lên, những gầu nước được cẩu lên, đổ vào chậu đồng, vỡ oà vui thích.

Góc trong cùng, gần chiếc chạn bát mà ông ngoại tôi có lần sang thăm ông thông gia gọi là cái gác măng rê, chú Út ngồi chặt gà. Những nhát dao của anh thợ ba toa vung lên, nhát nào nhát ấy bằng chằn chặn. Thịt gà chặt đẹp, nhất thiết phải xếp đẹp, chú bảo thế. Cô con gái bé của chú ngồi cạnh, chỉ đợi bố đánh mắt là chìa ngay ra nắm lá chanh xếp sẵn. Từ lưỡi dao điệu nghệ, tầng tầng sợi màu xanh ùn lên như chỉ rối, thoáng một cái đã phưng phức trên những chiếc còng gà.

Xế sang một góc, bác Tư, người đàn ông học hết lớp 7 trường làng, sau năm 1975 giải ngũ về làm thợ mộc đang nhẩn nha thái thịt. Nghề của bác, nghề xỏ ruổi, đục chạm, làm vì kèo, làm nhà gỗ cho người ta giờ đã dần mai một. Bác có buồn vì điều đó không, tôi không biết, nhưng tôi biết những lát dao của bác thì luôn buồn. Lát dao của người đàn ông cô đơn nhẹ nhàng lướt trên phiến thớt nhãn. Thịt ba chỉ, thịt mông sấn, thịt thăn chuột mềm… từng lớp được xếp đồng tâm. Giò lụa thái tam giác bày hình ngôi sao. Chả quế thái lát mỏng hình thoi. Bác ngảnh sang tôi: “Đấy, phần mày! Lúc nào cũng điệu điệu đàng đàng…” rồi phảy tay bước ra sân. Hoa cà chua tạo hình cùng cuộng hành chần và rau mùi, tôi thế chỗ bác, dập tỏi, thái ớt vào bát nước chấm.
Tiếng điếu cày giòn tan vang lên rồi dứt sau bức giại. Lũ em họ, ba thằng con trai nhầng nhầng bâu theo chân bác huỳnh huỵch ra vườn cọ. Ngửa mình trên tàu lá, dưới chân là con Ngòi Lâu, ở đó chúng sẽ nì nèo, tai hau háu nghe chuyện chiến tranh, chuyện súng nổ, chuyện pháo bầy, chuyện xe tăng, chuyện đói, chuyện rừng Trường Sơn có lũ khỉ không biết sợ người…

Mẹ và thím Út, tay xào miến, tay múc măng.
Chiếc bàn gỗ bày la liệt thức ăn.
Bác tôi, cô con gái duy nhất của Nội là người kiểm duyệt. Món nào xong, đếm đủ 8 đĩa cho 4 mâm bác mới cho bê. Đội bưng bê do 4 anh trai tôi (con của bác Cả và Bác Hai) đảm nhiệm. Xong việc họ lại túm vào nhau, tiếp tục đề tài muôn thuở còn dang dở: “…Con bé ấy đâu như nhà ở ngoài khu Cống Đá…”

Em Huyền, em Yến vừa chuyện vừa lau những chiếc đĩa sứ có cái đã sứt, đã nứt. Sứt thì sứt, nứt thì nứt, dứt khoát là phải rón tay. Lỡ một cái là bà nội rổn rảng ngay: Lại bán rẻ rồi à con? Cái đĩa ấy ông mày mua….
Đĩa bát ấy dùng xong phải rửa sạch, phơi khô, rồi thím dâu sẽ cất lại ngay ngắn vào chiếc sọt trong gian buồng có cánh cửa gỗ, cạnh chiếc hòm gian lưng lửng những lúa, những sắn khô, ngô hạt, thuốc, và… những hộp bánh quy. Bánh ấy là của mọi người thăm biếu mỗi lần ốm đau, ông bà dành lại, đợi ngày con cháu sum họp như bữa nay mới bỏ ra, xé vỏ.

Bà nội ngồi nơi bậu cửa bỏm bẻm nhai trầu. Cặp mắt đục mờ, một bên mộng đã bò gần kín con ngươi nhìn xa xôi về phía chiếc bàn gỗ.
Đấy là một chiếc bàn vuông cao chừng 40cm, mỗi chân đóng một chiếc đinh, kê vào bát nước có rỏ chút dầu để phòng lũ kiến. Nó vốn gọi là cái mâm gỗ, có từ thời ông còn đi làm cho nhà nước. Kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, ông đi biền biệt, bố và các anh chị em của bố ở với bà nội, có sắn ăn sắn, có khoai ăn khoai, vịn tay vào chiếc mâm gỗ ấy mà lớn lên….

Nem đã rán xong. Các món đã bày hết lên nhà trên.
Ban thờ nghi ngút khói hương. Bác Năm tôi, liệt sỹ chống Tàu năm bảy chín, trẻ trung nhìn xuống.

Chiếu trải đã đủ bốn mâm.
Quạt cây hai góc sẵn sàng.
Dúi thêm gộc củi, đổ thêm hai xúc trấu, đặt nồi nước thật to lên kiềng bếp để tí ăn xong có nước nóng rửa bát cho sạch, tôi lánh lánh, bước tránh hai chiếc hòm không xếp chồng lên nhau kê ngoài chái, nhảng ra Soi. Bố đã bảo đó chỉ là chiếc hòm không mà tôi vẫn sợ. Sợ, vì biết đó là những chiếc hòm Nội đóng sẵn, phòng ông bà ngày hậu sự.

Nắng tháng tư rực rỡ. Những bông hoa vàng ngả mình trên miên man đất nâu. Bí non lúc lỉu. Dưa chuột rộm phấn trên rèo. Ngô nếp đang thì lá xanh mơn mởn.

Tôi chẳng đi xa bởi cái tai còn ngảnh về mái cọ, đợi nghe tiếng gọi, dạ lên một tiếng, gọi bác cháu nhà kia còn đang say chuyện rồi lập tức chạy về.
Tôi chẳng đi xa, chỉ vạch lá hái tìm, nhấm nháp mấy quả đùm đũm đẫy đà đung đưa trong nắng, để bụng tí ăn xôi, để bụng còn ăn cỗ.

Một năm ba trăm sáu lăm ngày. Không kể giỗ chạp, không kể có việc thì cứ ba mươi tháng tư, mùng hai tháng chín và sáng ba mươi tết là đại gia đình tôi lại tụ hội nơi nhà Nội, năm nào cũng thế.
Cơm tất niên làm sáng ba mươi hoặc chiều hai chín. Sáng mùng một, mưa có chết cò thì con cái vẫn đội mưa về. Hồi ấy làm gì đã có ô tô. Những chiếc xe đạp, xe máy tám mốt đèo đôi, đèo ba, dù nắng dù mưa, đem theo quần áo dự phòng, cứ sáng mùng một là rồng rắn về chúc tết…

Ảnh minh họa.

***********
“ Khi bố mình còn sống, ngôi nhà này, dịp lễ đầy con cháu”.
Tim tôi muốn vỡ khi chạm vào dòng cảm xúc này trên fb, hôm qua. Bài viết chỉ bấy nhiêu dòng, đăng kèm bức ảnh một ngôi nhà khoá cửa.

Là bởi, nó chính là cảm xúc của tôi bấy lâu nay, nhiều năm rồi, năm nào cũng vậy, mỗi lúc mỗi dầy, mỗi năm mỗi lớn.
Là bởi nó chính là điều trì trĩu trái tim tôi mỗi lần về quê. Lâu rồi tôi ít về quê, trời ạ, sự thực là như vậy, phần vì bận việc, phần vì…

Vì ngôi nhà ba gian hai chái, mái cọ sân gạch, nơi nương giữ bao kỉ niệm tuổi thơ của anh chị em tôi giờ đã vắng hoe. Hai chiếc hòm gỗ dổi đã không còn. Nội đi xa đã lâu, cổng sau, phía hướng ra bãi soi giờ rấp ngọn tre, ít người lại qua, tơ hồng vấn vít.
Không có hơi người mọi thứ đều xuống cấp. Sân gạch bong lỗ chỗ. Ròng rọc kẹt cứng, chiếc gầu cao su có cái gióng ngang bằng gỗ gỗ giờ đã ải nằm tơ hơ, bạch phếch dưới nắng, dưới mưa.
Bàn thờ tổ tiên và di ảnh bác cả tôi đã thỉnh về bên phố để tiện việc khói hương, mỗi lần giỗ chạp đại gia đình tôi đều tụ về phía ấy…

Nội đi, những năm đầu, sáng mùng một nhà tôi vẫn giữ thói quen về quê chúc tết. Dọn dẹp trong ngoài, bầy biện mâm cơm, con cháu lác đác về không đủ, bữa ăn buồn và chống chếnh.
Rồi chị gái của bố tôi, người con gái duy nhất của Nội ở liền kề gần đó không may bạo bệnh. Bữa bác khuất mưa to lắm. Tôi đứng bên thềm này nhìn sang, thấy khoảnh vườn xơ xác, thấy cây mít cỗi, thấy mái nhà xệ, nhìn thông qua chái thấy được cả chiếc hòm gian. Chiếc mâm vuông của Nội dựa vào đầu hồi gỗ đã thâm xì, tôi thực sự khóc còn hơn mưa, hơn gió.

Ai rồi cũng sẽ phải lớn lên, đúng không?
Ai rồi cũng có nhiều việc bận, phải không?
Hôm qua tôi về quê, dỡ rào, rủ ba đứa em gái đi ra bãi soi. Bến nước năm xưa mẹ tôi lần đầu về làm dâu đãi đỗ gói bánh chưng làm sóng đỗ ra vẫn còn đây. Hòn đá giẫm chân, người xuống người lên nhẵn thín.
Bí vẫn đó, ngô vẫn đó, đất soi thì vẫn xốp. Bụi tre lộc ngộc giờ chú Út tôi là chủ. Đồi cọ, đồi vầu giao cho bác Tư không vợ, ngày ngày lấy đó sinh nhai. Bữa rồi tôi nghe người yêu cũ của bác, người đã không đợi được bác thuở xưa giờ cũng ở một mình, đứa con gái với chồng cũ cũng vừa xuất giá. Tôi nghe phong thanh rằng bị thím tôi dụ khị, nhìn bác Tư ngượng ngùng gãi vành tai đỏ ửng, cô ấy khóc nhiều, lần hồi rồi cũng có ý xuôi xuôi.

Ai thì cũng phải lớn lên, phải không?
Tôi lớn rồi, tôi chỉ mong bác Tư và cô ấy nên đôi.
Tôi chỉ mong bác từ nay thôi không tìm theo đoàn thợ nào nữa. Cọ đấy, sân đấy, giếng đấy, họ gầy lại mái nhà xưa. Chiếc bàn vốn là gỗ tốt, chỉ cần bào lại là lại thành chiếc mâm. Bác đã già đâu, cô ấy cũng đã già đâu. Một ngày nào đó, những đứa cháu của họ lại vịn tay vào chiếc bàn vuông, chiếc mâm vuông kia mà đứng dậy.

Ai rồi cũng phải lớn, phải không?
Tôi chỉ mong tôi đừng lớn thêm.
Tôi chỉ mong mọi người đừng bận quá.
Tôi chỉ mong mái cọ xưa của Nội tôi, một ngày gần lại cất nên liếp mới….

HÀ NGỌC 3/5/2022

Bạn đang đọc bài viết  Ai rồi cũng lớn…
 tại chuyên mục Văn hóa – Giải trí.
Cung cấp thông tin, liên hệ đường dây nóng:
0369452904 – 0977600308.
Hoặc Email: [email protected]
[email protected]