Đầu tư FDI: “Cho rất nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”

(KDPT) – Theo các chuyên gia, trong khi được “trải thảm đỏ” với nhiều ưu đãi và chính sách đất đai, thuế, khu vực FDI vẫn phát triển khá biệt lập, làm gia công, ít đầu tư nghiên cứu sáng chế và đặc biệt không chịu chuyển giao công nghệ và vòng đời thiết bị cho doanh nghiệp Việt.

Phát biểu tại Hội thảo chuyên đề về thu hút và chuyển giao công nghệ trong khu vực đầu tư nước ngoài diễn ra mới đây, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương cho biết, sau 30 năm thực hiện chính sách mở cửa, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước.

Tính đến nay, Việt Nam đã thu hút được 25.949 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 326,3 tỷ USD, trong đó, 84% số dự án là đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài. Vốn thực hiện luỹ kế ước đạt 180,7 tỷ USD bằng 56% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Riêng trong 6 tháng năm 2018, chúng ta đã thu hút được 1.362 dự án cấp mới và 507 dự án điều chỉnh vốn và 2.749 dự án góp vốn mua cổ phần với tổng vốn đăng ký là hơn 20 tỷ USD.

Đầu tư nước ngoài hiện là nguồn vốn bổ sung quan trọng, chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư cả nước, đóng góp khoảng 20% GDP.  Năm 2017, khu vực FDI đóng góp gần 8 tỷ USD, chiếm 14,4% tổng thu ngân sách.

Hiện nay, 58% vốn FDI tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, tạo ra 50% giá trị sản xuất công nghiệp, góp phần hình thành một số ngành công nghiệp chủ chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện tử, viễn thông…

Ngoài ra, đầu tư nước ngoài tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động. Tính đến nay, khu vực doanh nghiệp FDI tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và 5-6 triệu lao động gián tiếp.

Mối liên kết, tác động lan tỏa của doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội còn chưa được như kì vọng. Ảnh minh họa.

Thông qua các dự án FDI, trình độ công nghệ sản xuất trong nước được nâng cao so với thời kỳ trước. Do sự cạnh tranh ngày càng cao với các sản phẩm của doanh nghiệp FDI, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng cố gắng đổi mới công nghệ bằng việc nhập thiết bị và công nghệ mới để sản xuất ra sản phẩm có tính cạnh tranh, không thua kém hàng nhập khẩu. Đây là chuyển giao công nghệ một cách gián tiếp.

Mặc dù vậy, nhiều dự án FDI vẫn chủ yếu tập trung vào lắp ráp, gia công, tỷ lệ nội địa hóa thấp, giá trị tạo ra tại Việt Nam không cao. Đây là những tồn tại đã được chỉ ra trong nhiều năm qua, nhưng chúng ta chưa có biện pháp thay đổi tình hình.

Hiện nay, xét về việc chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt, nhiều chuyên gia khẳng định còn rất ít, thậm chí là chưa có.  Nguyên nhân là do chính sách của Việt Nam không bắt buộc doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ mà chủ yếu là khuyến khích các DN FDI chuyển giao mà không có ràng buộc pháp lý.

Bên cạnh đó các dự án FDI chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp Việt Nam để cùng tham gia chuỗi giá trị, chưa thúc đẩy được công nghiệp hỗ trợ Việt Nam phát triển.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện vẫn dựa vào thâm dụng vốn, lao động. Trong khi đó, nhiều nước trong khu vực có tỷ lệ đóng góp của nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt trên 50% như Thái Lan là 53%, Hàn Quốc là 51,5%, Trung Quốc là 52%, trong khi đó Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 40%.

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới 2016, hiệu quả chuyển giao từ doanh nghiệp FDI của Việt Nam rất thấp và có xu hướng ngày càng bị tụt hậu so với các quốc gia trong khu vực. Việt Nam đứng vị trí 103, Thái Lan thứ 36, Indonesia thứ 39, Malaysia xếp thứ 13.

Xét trên mặt bằng chung, doanh nghiệp FDI vào Việt Nam đa số đều là những nhà đầu tư hạng trung bình trên thế giới. Những nhà đầu tư này rất cần thiết cho sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn 20 năm về trước, trong tương lai Việt Nam phải tính toán, mở rộng cửa mời gọi những nhà đầu tư hạng A, có quy mô, chất lượng tốt hơn. Không thể mở cửa tràn lan, những bất cập, của FDI phải được rút kinh nghiệm để “chọn mặt gửi vàng”.

Phương Thúy