Hiệp định EVFTA đối với nền kinh tế Việt Nam

Góc nhìn - 06/01/2020

(KDPT) – Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) đã chính thức được ký kết (30/6/2019), tại Hà Nội, đã đánh dấu một cột mốc quan trọng trong quan hệ đối tác bền vững, giúp thúc đẩy phát triển kinh tế cũng như củng cố quan hệ thương mại, từ đó tăng cường hợp tác và làm sâu sắc hơn mối quan hệ lâu dài giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu. Như vậy, sau 6 năm đàm phán EVFTA đã khép lại và mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập vào thị trường đầy tiềm năng với 508 triệu dân và tổng sản phẩm nội địa (GDP) khoảng 18.000 tỷ USD của EU.Tuy nhiên, những thách thức cũng không nhỏ, các doanh nghiệp Việt nam cần làm gì để tận dụng cơ hội vượt qua những thách thức khi EVFTA có hiệu lực thực thi .

Dự báo những tác động của EVFTA đối với kinh tế của Việt nam

Hiệp định về thương mại EVFTA là thế hệ mới với tiêu chuẩn cao, toàn diện, độ mở lớn và cân bằng lợi ích, với các nước có một nền văn minh tiên tiến, một khối kinh tế phát triển hiện đại, hùng mạnh hàng đầu thế giới. Việc ký kết hiệp định này đã mang lại cơ hội hợp tác song phương, chưa từng có từ trước tới nay và được ví như “tuyến đường cao tốc quy mô lớn” giữa Việt Nam và 28 nước thành viên EU. Sự liên kết, tổng hòa hiệp định quan trọng này sẽ nâng quan hệ Việt Nam và EU lên tầm cao mới mang tính chiến lược. Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ đang nổi lên, các thách thức an ninh phi truyền thống càng lớn, thương mại toàn cầu đối mặt với nhiều khó khăn.

Tác động của EVFTA đối với nền kinh tế Việt Nam cần được đánh giá trên ba tiêu chí: (i) Vị thế của đối tác; (ii) Tác động đến tiến trình xây dựng thể chế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế; và (iii) Tác động đến tăng trưởng thông qua thu hút đầu tư và mở rộng xuất khẩu.

Rất nhiều dự báo về những lợi ích mà hiệp định mang lại, tạo đà cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng vượt trội là hoàn toàn có cơ sở. Hiệp định EVFTA có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, sẽ tạo thế và lực mới giúp nâng cao hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế lâu dài của đất nước. EVFTA không chỉ tạo điều kiện nâng cao kim ngạch hai chiều mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, giúp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị mới. Hai hiệp định này sẽ giúp Việt Nam thực hiện chủ trương đa dạng hóa quan hệ kinh tế – thương mại, nhất là đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, tránh phụ thuộc quá mức vào một khu vực. Bên cạnh đó, đẩy mạnh xuất khẩu cũng sẽ góp phần tạo việc làm, hỗ trợ tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Theo đánh giá của Dự án Mutrap, EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ tăng 30 – 40%

Quá trình đi từ ký kết đến thực thi hai hiệp định còn phải trải qua một chặng đường khi chúng ta phải chờ Nghị viện châu Âu (EP) và nghị viện của 28 nước thành viên bỏ phiếu thông qua, đồng thời phải được Quốc hội phê chuẩn. Chặng đường này dài hay ngắn phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực cả hai phía Việt Nam-EU. Quốc hội đã chủ động đưa ra lộ trình sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Bộ Luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ… Chính phủ sẽ ban hành “Chương trình hành động quốc gia” để chuẩn bị cho quá trình hội nhập. Đây chính là những bước đi chủ động để chuẩn bị cho quá trình hội nhập; trong đó, có việc thực hiện Hiệp định EVFTA

Cơ hội thì luôn đi kèm với thách thức; Từ nay đến giữa năm 2020, Việt Nam phải đặc biệt chú ý tới những vấn đề sau:

Thứ nhất“Thẻ vàng” về đánh bắt thủy sản. Việt Nam bị áp dụng thẻ vàng từ năm 2017, điều này gây ra trở ngại lớn đó là tất cả những mặt hàng hải sản của nước ta xuất sang EU sẽ bị kiểm soát 100%, trong khi trước đó kiểm soát có xác suất. Điều này gây ra áp lực lớn cho doanh nghiệp Việt Nam khi chúng ta mất nhiều thời gian và trải qua nhiều thủ tục hành chính hơn trước để chứng minh nguồn gốc khai thác thủy sản bảo đảm tính hợp pháp. Theo báo cáo từ Hiệp hội thủy sản Việt Nam (VASEP), từ khi bị phạt “thẻ vàng”, kim ngạch xuất khẩu thủy-hải sản sang EU của Việt Nam đã giảm nhiều. Từ vị trí thứ hai, tụt xuống đứng thứ năm, tỷ trọng của thị trường này cũng giảm từ 18% xuống 13%. “Thẻ vàng” là sự cảnh báo của EU với Việt Nam khi muốn xuất khẩu thủy sản vào EU thì phải tuân thủ đúng các quy định của EU. Trong suốt 2 năm cố gắng tháo gỡ “thẻ vàng” chưa thành, nếu không tuân thủ, qua giai đoạn “thẻ vàng” sẽ bị áp dụng “thẻ đỏ”. Khi bị áp dụng “thẻ đỏ”, nghĩa là EU cấm nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam.

Trong suốt 2 năm kiên định với mục tiêu tháo gỡ “thẻ vàng”, Chính phủ, các bộ, ngành đã tích cực vào cuộc cùng với các địa phương và ngư dân cùng nhau tháo gỡ khó khăn. Vừa qua, Quốc hội đã thảo luận nhiều về vấn đề tháo gỡ “thẻ vàng”.  Nhưng hiện nay, quy mô số lượng, các hộ khai thác thủy sản rất lớn, để thay đổi tất cả các hành vi trong cùng một lúc không phải đơn giản, hiện vẫn còn một số hộ ngư dân ở khu vực biển phía Nam vi phạm chưa chấp hành. Mặc dù được phía phái đoàn EC đánh giá cao nhưng có khả năng Việt Nam vẫn chưa gỡ được “thẻ vàng”. Vì hiện nay, quy mô số lượng, các hộ khai thác thủy sản rất lớn, để thay đổi tất cả các hành vi trong cùng một lúc không phải đơn giản

Thứ hainhững thế lực thù địch. Hiện có một số thế lực thù địch và bất đồng chính kiến với Việt Nam đã gửi các kiến nghị tới Nghị viện châu Âu và Nghị viện của một số nước trong EU về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam vẫn còn nhiều điều lo ngại và đề nghị chưa thông qua EVFTA. Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều để minh chứng, giải trình những lo ngại đó là không đúng sự thật.

Thực trạng năng lực của các DN Việt nam trước những thách thức của EVFTA

Thực lực của các doanh nghiệp trong nước còn yếu, hiện có tới 95% doanh nghiệp vừa & nhỏ và siêu nhỏ (dưới 20 người) không có khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu, nền tảng công nghệ 4.0 cho thấy chưa được ứng dung nhiều.

Hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn ở mức thấp so với khu vực và thế giới, các trụ cột thuộc nhóm gia tăng hiệu suất, như: mức độ tinh thông trong hoạt động kinh doanh, hiệu quả thị trường hàng hóa… ít có sự cải thiện, thậm chí giảm sút. Cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trên tất cả các lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế từ hoạt động ngân hàng, tài chính đến sản xuất, thương mại, dịch vụ. Nguyên nhân dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh đó hệ thống pháp luật vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống. Cơ chế xây dựng, sửa đổi pháp luật còn nhiều bất hợp lý và chưa được coi trọng đổi mới; Nhất là tính chưa hoàn thiện của các quy định về kiểm soát hành vi cạnh tranh đã tạo “kẽ hở” để các doanh nghiệp trong nước lợi dụng, có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm giành giật thị trường, loại bỏ đối thủ, cũng như các doanh nghiệp nước ngoài lợi dụng để chèn ép, loại bỏ các đối thủ là các doanh nghiệp Việt Nam.

Cùng với đó, ý thức tuân thủ pháp luật của một số doanh nghiệp chưa cao, kinh doanh quá mạo hiểm trong khi mức xử phạt đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn quá thấp. Các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh chưa được các cơ quan có

thẩm quyền giải quyết một cách nhanh chóng và triệt để; công tác quản lý và giám sát việc thực thi pháp luật cạnh tranh còn yếu kém.

Nguồn lực về tài chính còn hạn chế. Thực tế trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, không một doanh nghiệp nào là không thiếu vốn. Con đường huy động vốn duy nhất từ trước tới nay là tìm đến các ngân hàng thương mại (NHTM), đa số là tín chấp. Những năm trước, khi nền kinh tế nghẽn lại vì nợ xấu ngân hàng, do đầu tư thiếu hiệu quả từ các “cú đấm thép” của tập đoàn nhà nước, các tập đoàn tư nhân cũng bắt đầu “co lại”. Tuy nhiên, trong vài năm trở lại đây, khi nợ xấu bước đầu được xử lý, dấu hiệu khởi sắc của nền kinh tế và áp lực lãi suất đã giảm đi, các doanh nghiệp lớn muốn đầu tư đa ngành đã bắt đầu huy động vốn bằng nhiều phương án khác nhau chứ không còn quá trông chờ vào ngân hàng như trước kia.

 Ngoài việc huy động vốn từ vay NHTM, các doanh nghiệp hiện nay thường niêm yết các công ty con trên sàn chứng khoán để huy động vốn. Từ tỷ lệ sở hữu ban đầu là 100%, các doanh nghiệp bắt đầu thoái vốn dần, nhường chỗ cho các nhà đầu tư khác trong bối cảnh giá trị công ty ngày càng tăng, đồng nghĩa với việc chào bán cổ phần ngày càng “được giá” hơn. Trên thực tế, có thể thấy chuyện các doanh nghiệp lớn, đa ngành chọn cách huy động vốn bằng niêm yết công ty con trên thị trường chứng khoán ngày càng phổ biến. Một điểm đáng chú ý là ở thời điểm hiện nay, nguồn vốn đang được chuyển dịch từ vay ngân hàng sang thị trường vốn, chẳng hạn như thị trường chứng khoán. Các doanh nghiệp hiện cũng tăng cường phát hành trái phiếu vay nợ, cũng như đi tìm vốn trên thị trường quốc tế. Đây là tín hiệu tốt vì giảm rủi ro mất cân đối kỳ hạn ngắn – dài khi vay vốn (ngân hàng thường huy động vốn ngắn hạn nhưng phải cho vay dự án trung và dài hạn). Điển hình là câu chuyện của Vingroup, hiện tập đoàn Vingroup sử dụng nhiều phương án huy động vốn như phát hành trái phiếu, chào bán cổ phần hay vay nợ quốc tế để tài trợ thêm cho việc mở rộng đa ngành. Trong tương lai các mảng kinh doanh khác như VinFast (sản xuất công nghiệp) hay Vinpearl Air trong lĩnh vực hàng không, hay VinTech liên quan đến công nghệ, nếu được niêm yết thì cũng không có gì ngạc nhiên. Một ví dụ khác là kế hoạch huy động 100 triệu đô la theo phương án IPO hãng hàng không Bamboo Airways của ông chủ Tập đoàn FLC, theo thông tin từ Bloomberg. Hãng hàng không này cũng vừa chuyển đổi mô hình từ công ty TNHH sang công ty cổ phần, tăng vốn từ 1.300 tỉ đồng lên 2.200 tỉ đồng.

Nhìn chung, việc niêm yết trên sàn chứng khoán sẽ giúp các công ty này nhanh chóng phình to về quy mô tài sản nhờ điều kiện huy động vốn tốt hơn. Chẳng hạn, báo cáo thường niên năm 2018 của Vingroup cho biết, tổng mức vốn hóa tập đoàn tại thời điểm cuối năm 2018 đã tăng gấp 13 lần so với năm 2012, là thời điểm mà Vincom và Vinpearl sáp nhập thành Tập đoàn Vingroup.

Lịch sử sàn chứng khoán Việt Nam ghi nhận câu chuyện nhà đầu tư ưa thích đầu tư vào các công ty con dạng “F1”, có thể ví dụ điển hình như “họ” dầu khí. Rồi sau đó các tập đoàn mẹ cứ thế mà niêm yết thêm vì dễ huy động vốn. Về cơ bản, “công ty F1” có kết quả kinh doanh tốt và có vị thế nhất định trên thị trường sẽ nhiều khả năng gọi vốn hơn. Dù vậy, việc công ty con huy động vốn như thế nào sẽ phụ thuộc nhiều vào uy tín của các tập đoàn mẹ. Tuy nhiên, rủi ro khi “túi nợ” dày thêm cũng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, trên sàn chứng khoán cũng không thiếu những bài học về chuyện tập đoàn hùng mạnh bỗng chốc chao đảo vì sai lệch cấu trúc tài chính, vay quá nhiều trong khi hoạt động kinh doanh không như kế hoạch khi thị trường chung đi xuống, chẳng hạn như tập đoàn Hùng Vương trong lĩnh vực thủy sản hay Hoàng Anh Gia Lai. Kết quả là phải tái cấu trúc bằng cách bán dần tài sản doanh nghiệp.

Trình độ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn ở mức lạc hậu. Việt Nam đi sau các nước trong khu vực 2–3 thế hệ công nghệ trong công nghiệp hoá. Các công nghệ của các doanh nghiệp đến chủ yếu từ các nước đang phát triển chiếm khoảng 65%, trong đó có tới 26,6% công nghệ có xuất xứ từ Trung Quốc. Những con số trên đã cho thấy phần nào thực trạng trình độ công nghệ và máy móc thiết bị của các doanh nghiệp trong các ngành chế biến chế tạo của Việt Nam và sự cần thiết phải thúc đẩy quá trình đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp

Về đổi mới quy trình, chủ yếu các doanh nghiệp thực hiện thông qua phương thức đầu tư vào công nghệ mới hay nâng cấp/chỉnh sửa công nghệ hiện tại, trong khi các hoạt động chuyển giao từ các tổ chức Khoa học và Công nghệ (KHCN) đến doanh nghiệp lại rất thấp (dưới 1%). Điều này cho thấy sự liên kết giữa doanh nghiệp (bên cầu trong thị trường KHCN) với các viện trường, các nhà khoa học (bên cung) vẫn còn rất hạn chế. Thể hiện vấn đề liên kết chuyển giao tri thức, kết quả nghiên cứu giữa các nhà khoa học, viện, trường cho các doanh nghiệp dường như là yếu tố quyết định giúp phát triển thị trường KHCN, nhằm nâng cao trình độ KHCN ở Việt Nam không nhiều.

Doanh nghiệp không có kế hoạch rõ ràng và thường thấy không có sự điều chỉnh phù hợp hoặc thậm chí lấy vốn của dự án này phân bổ cho những việc khác hoặc các dự án khác mà không có sự cân nhắc kỹ lưỡng. Trong trường hợp đó khi một dự án rơi vào khủng hoảng, dù là dự án rất nhỏ nhưng có khi làm ảnh hưởng đến các vấn đề khác về khía cạnh quản lý doanh nghiệp hoặc thậm chí đưa doanh nghiệp vào thế phá sản.

Về việc đầu tư tài sản, nhiều doanh nghiệp khi mua sắm, đầu tư tài sản cho doanh nghiệp thường chạy theo với xu thế mà không nhìn lại hoàn cảnh của mình. Đôi khi việc mua sắm không làm tăng giá trị về mặt doanh thu mà lại bị thâm hụt tài chính… hoặc có thể đầu tư chưa phù hợp với giai đoạn phát triển của doanh nghiệp.

Về đổi mới sáng tạo, trong doanh nghiệp thuộc dự án FIRST-NASATI thực hiện mới đây, có tới gần 85% các doanh nghiệp tự thực hiện các hoạt động nghiên cứu phát triển để có được các sản phẩm mới, chỉ có gần 14% các doanh nghiệp đã phối hợp với các đơn vị bên ngoài để triển khai nghiên cứu đổi mới sản phẩm.

Từ thực trạng đó, Nhà nước cần có cơ chế để các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực, tăng nội địa hóa và kết nối vào chuỗi cung ứng toàn cầu, cần đơn giản và thực tiễn hơn, làm cho các doanh nghiệp hấp thụ công nghệ và tạo ra hành lang một cửa để tiếp nhận các dòng dịch chuyển đầu tư. Đây là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việt Nam là nước đi sau, đang phát triển cần phải lựa chọn các công nghệ phù hợp với mỗi địa phương và với doanh nghiệp của mình. Việt Nam cần chú ý xu hướng phát triển nền kinh tế tuần hoàn, phát triển ngành chế biến phụ phẩm, tạo giá trị gia tăng. Cần phải dùng công nghệ để để thực hiện vừa phát triển kinh tế xã hội một cách bền vững, bảo vệ môi trường, dựa trên chính tài nguyên của các địa phương, kể các rác thải cũng được coi là nguồn tài nguyên của chúng ta. Cần có sự liên kết chặt chẽ từ các nhà khoa học, doanh nghiệp với các cơ chế do nhà nước, chính phủ, các bộ, ngành trong việc đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp

Chất lượng lao động của Việt Nam thấp tác động xấu đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi tuyển lao động, hầu hết các doanh nghiệp phải đào tạo lại toàn bộ trước khi đưa vào sử dụng. Kiến thức đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng hầu như đã lỗi thời, không sát thực tế so với tại công ty. Điều này khiến sinh viên mới tốt nghiệp rất lúng túng khi thực thi công việc, họ chỉ có thể làm những việc cơ bản như photocopy, nhận và gửi email … Đáng buồn hơn, rất nhiều sinh viên trong số đó không có khả năng sử dụng ngoại ngữ, vi tính.

 Chất lượng lao động thấp là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vị trí chủ chốt trong doanh nghiệp lớn phải sử dụng người nước ngoài. Thực trạng này dẫn đến nghịch lý: Nguồn nhân lực mặc dù “dồi dào” nhưng doanh nghiệp lại luôn kêu thiếu. Có một thực trạng đáng buồn đối với ngành nhân sự là nguồn cung trình độ cao còn rất hạn chế mà nhu cầu thì rất cao. Các chuyên gia nhân sự cho rằng, thị trường tuyển dụng đang thay đổi, lợi thế dần nghiêng về phía ứng viên có trình độ cao khiến cuộc đua thu hút nhân tài trình độ cao giữa các doanh nghiệp ngày càng diễn ra mạnh mẽ trong cuộc cạnh tranh gay gắt. Thị trường lao động vẫn đang chập chững những bước đi đầu tiên và gần như hoàn toàn tự phát.

Công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực ở các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều thách thức lớn.Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam trung bình chỉ sử dụng khoảng 40% năng suất của nguồn nhân lực mà họ đang sở hữu và tỷ lệ này còn khó lý giải hơn nữa ở nhóm nhân viên khối văn phòng. Nguyên nhân của vấn đề này cơ bản nằm ở sự yếu kém về công tác quản trị nguồn nhân lực. Những khó khăn và hạn chế chủ yếu mà phần lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam hay gặp phải như : Nhận thức chưa đúng của nhiều cán bộ lãnh đạo, nhân viên về vai trò then chốt của nguồn nhân lực con người và quản trị nguồn nhân lực đối với sự thành công của doanh nghiệp; Trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa cao, thiếu cán bộ quản lý giỏi và các chuyên gia về quản trị nguồn nhân lực; Nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng thừa biên chế. Cùng lúc các doanh nghiệp phải giải quyết tình trạng thiếu lao động có trình độ lành nghề cao nhưng lại thừa lao động không có trình độ lành nghề hoặc có những kỹ năng được đào tạo không còn phù hợp với những yêu cầu hiện tại, dẫn đến năng suất lao động thấp; Nhiều doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, thu nhập của người lao động thấp, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống, nhiệt tình và hiệu quả làm việc của người lao động; Ý thức tôn trọng pháp luật chưa cao, luật pháp được thực hiện chưa nghiêm minh; Chưa có tác phong làm việc công nghiệp; Chưa xác lập được quan hệ bình đẳng, hợp tác giữa người lao động và chủ doanh nghiệp; Một số quy chế về đánh giá, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, cho nghỉ việc… chậm cải tiến, không còn phù hợp với điều kiện kinh doanh mới của doanh nghiệp; Nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn. Đối với các doanh nghiệp lớn thì việc thu hút nhân sự và giữ chân nhân tài đã khó thì vấn đề này đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì trở nên khó bội phần. Nguyên nhân do ngân sách dành cho tuyển dụng, thu hút nhân tài và đãi ngộ còn hạn chế. Do nguồn cung nhân sự cấp cao hạn chế nên xảy ra tình trạng các doanh nghiệp chọn giải pháp “chiêu dụ” người tài từ các công ty đối thủ.

Những khó khăn, hạn chế trong quản trị nguồn nhân lực ở Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị con người trong doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần có hệ thống quản trị nhân sự với những chính sách về tuyển dụng, đào tạo, trả lương, khen thưởng, đánh giá mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển, hội nhập hiện nay của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp Việt Nam nên nhìn nhận và có động thái như thế nào để vượt qua các rào cản, chủ động SXKD

Thách thức và khó khăn là không ít, tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận rõ là một khi đã chấp nhận vào một cuộc chơi lớn, nếu vượt qua được thì chắc chắn chúng ta sẽ có đủ sức để tham dự bất kỳ một hình thức hay quy mô nào trong hội nhập thế giới.       Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia các FTA chính là thách thức tự đổi mới. Sự tự đổi mới này phải đến từ nhiều phương diện: thông tin, tư duy, công nghệ, giá thành, năng suất… Sự đổi mới, sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh là yếu tố cốt lõi để thành công. Trong quá trình đổi mới, sáng tạo, phải hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Ở thời điểm hiện tại, thách thức trước mắt lại xuất phát từ sự hiểu biết và và nhận thức của doanh nghiệp về FTA còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn chưa biết hoặc chưa hiểu rõ về các FTA thế hệ mới và đang đặt mình ở thế bị động, thay vì ở tư thế chủ động, sẵn sàng bước vào những cuộc cạnh tranh mới mẻ.

Tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA

Để tận dụng tốt cơ hội từ EVFTA doanh nghiệp cần có động thái và quan tâm những vấn đề quan trọng sau:

  • Doanh nghiệp cần tập trung tìm hiểu, tiếp cận và nắm bắt một cách toàn diện nội dung hiệp định. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chủ động tiếp cận những chương trình của Chính phủ để phối hợp thực thi tốt hiệp định này.
  • Doanh nghiệp phải tiếp cận được thông tin thị trường. Để làm điều này cần sự phối hợp từ cả hai phía. Các cơ quan chức năng, các hiệp hội phải ngay lập tức cung cấp đầy đủ thông tin cho doanh nghiệp, thông tin phải chi tiết đến từng mặt hàng, từng dòng thuế, từ đó các doanh nghiệp định vị được hoạt động kinh doanh của mình, lựa chọn được điểm đến cần thiết, theo đó có thể lựa chọn được đối tác, khách hàng của mình. Các doanh nghiệp cũng cần căn cứ vào đó để so sánh các thị trường để tìm ra đâu là thị trường có lợi nhất để định hướng sản xuất kinh doanh, tìm đối tác
  • Doanh nghiệp phải nâng cao năng lực cạnh tranh; phải tạo ra những sản phẩm, dịch vụ phù hợp với chất lượng cao, giá thành thấp; phải đổi mới sáng tạo; phải cải thiện hệ thống quản trị và nâng tầm quản trị của mình lên với ngang tầm với các đối tác châu Âu, châu Mỹ.
  • Vượt qua hàng rào kỹ thuật thị trường EU. Do hàng rào kỹ thuật thị trường EU dày đặc và khắt khe, để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, trước hết, các doanh nghiệp phải nắm được các hàng rào kỹ thuật này đối với từng hàng hoá, từng thị trường, từng nước. Doanh nghiệp cần biết EU rất hay cập nhật hàng rào kỹ thuật, tháng này như thế nhưng tháng sau họ có thể cập nhật thêm những tiêu chí mới. Do vậy, việc cập nhật hàng rào kỹ thuật cho từng mặt hàng ở EU là vô cùng quan trọng.
  • Lập kế hoạch, chiến lược kinh doanh thích hợp.  Để hội nhập thành công, mỗi doanh nghiệp, hiệp hội cần có kế hoạch, chiến lược kinh doanh thích hợp, tận dụng tối đa các lợi ích mà hiệp định mang lại. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh bằng cách chủ động nguồn nguyên liệu, đổi mới công nghệ, quản trị là giải pháp bền vững không chỉ trong tận dụng cơ hội EVFTA, EVIPA mà còn đảm bảo sự phát triển ổn định, ứng phó hiệu quả với các thách thức khác.

Mục tiêu ngắn hạn: Mỗi doanh nghiệp cần xác định rõ từng bước đi cụ thể của mình. Đặc biệt để tiến lên công đoạn tạo giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu thì trước hết mỗi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực sản xuất của chính mình và lớn hơn là cạnh tranh với các quốc gia khác. Bên cạnh những mặt tích cực, lợi thế để tạo ra giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu doanh nghiệp cần phải vượt qua những khó khăn đang đối mặt. Tuy nhiên, để nâng cao năng lực cạnh tranh, tiến cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu thì Việt Nam không chỉ vượt qua chính mình mà đòi hỏi phải tiến kịp và vượt qua quốc gia khác. Đây là một thách thức không nhỏ đòi hỏi nỗ lực của cả Chính phủ và bản thân các doanh nghiệp đòi hỏi không chỉ nhận thức mà cần có hành động cụ thể và quyết liệt của cả 2 bên.

Mục tiêu dài hạn:  Mỗi doanh nghiệp phải xác định rõ con đường mình đã bước vào và sẽ đi trong tương lai. Ở đây cần có sự chuẩn bị chu đáo và tầm nhìn của chủ doanh nghiệp, đồng thời nó thuộc về vấn đề quản trị. Tuy nhiên, đây lại là điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam vì đến nay khả năng quản trị doanh nghiệp Việt Nam đứng cuối bảng trong khu vực ASEAN. Do đó, doanh nghiệp cần phải tự chủ động, quyết liệt nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt lưu ý là phải có chiến lược kinh doanh dài hạn, xây dựng thương hiệu, đặc biệt là nâng cao quản trị doanh nghiệp, giữ chữ tín trong kinh doanh. Đặc biệt, doanh nghiệp cần sớm xóa bỏ tư duy kinh doanh luộm thuộm, ngắn hạn; thay bằng tư duy dài hạn và chuyên nghiệp.

  • Xây dựng mối quan hệ tốt với các tham tán thương mại. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam nên lưu ý rằng, hệ thống tham tán thương mại của Việt Nam ở EU rất nhiều và các tham tán này là những người có kinh nghiệm và có trách nhiệm. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải xây dựng được mối quan hệ tốt với các tham tán thương mại; đồng thời, coi họ như là những người bạn đồng hành, nằm vùng, hỗ trợ giúp cho doanh nghiệp nắm được thông tin, nhu cầu, lý lịch thông tin của doanh nghiệp; cách thức làm ăn của từng quốc gia EU.
  • Chủ động tiếp cận, áp dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Doanh nghiệp phải chủ động tiếp cận và áp dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua chuyển đổi số; chủ động ứng dụng công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ hướng tới chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế; các doanh nghiệp phải chủ động tham gia vào chuỗi giá trị, đóng góp tích cực vào chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ vào quá trình sản xuất để nâng cao năng suất, giá trị cho sản phẩm.
  • Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Để có thể tồn tại, phát triển mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế và CMCN 4.0, việc phát triển nhân tài là một trong những ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp tại Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp cần đề ra chiến lược phát triển nhân lực lâu dài, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp. Trong đó phát triển và đào tạo nhân tài nội bộ đóng vai trò cực kỳ quan trọng để thu hút và giữ chân lực lượng lao động 4.0 trong thời đại số hiện nay. Một chiến lược phát triển nguồn nhân lực đúng đắn là phải đi từ gốc theo một chuỗi nhân lực từ khâu tuyển dụng, đến đào tạo, gìn giữ và phát triển nguồn nhân lực.

PGS, TS Ngô Trí Long – Chuyên gia Kinh tế