Khả năng thực hành kinh tế tuần hoàn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam 

(KDPT) – Tham dự Hội thảo khoa học “Đánh giá khả năng thực hiện mô hình kinh tế tuần hoàn trong khu công nghiệp Việt Nam – Khảo sát mô hình điểm KCN Nam Cầu Kiền” được tổ chức mới đây, PGS, TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết – Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Giám đốc Trung tâm Tri thức Kinh tế tuần hoàn đã có những chia sẻ, phân tích xoay quanh kinh tế và khả năng ứng dụng của mô hình này với các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) tại Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết trình bày tham luận tại Hội thảo.

KINH DOANH VÀ PHÁT TRIỂN trân trọng giới thiệu toàn văn bài tham luận của PGS, TS Nguyễn Thị Ánh Tuyết:

1. Triết lý kinh tế tuần hoàn 

Kinh tế tuần hoàn (KTTH) là một hệ thống kinh tế có tính tái tạo và khôi phục thông  qua các kế hoạch và thiết kế có tính chủ động, nó thay thế khái niệm “kết thúc vòng đời”  của vật liệu bằng khái niệm “khôi phục, chuyển dịch theo hướng sử dụng năng lượng tái  tạo, không dùng các hóa chất độc hại gây tổn hại tới việc tái sử dụng và hướng tới giảm  thiểu chất thải thông qua việc thiết kế vật liệu, sản phẩm, hệ thống kỹ thuật và cả mô hình  kinh doanh trong phạm vi của hệ thống đó [6]. KTTH là mô hình kinh tế trong đó các hoạt  động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo  dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi  trường [7]. Đây là một chiến lược phát triển bền vững đang được đề xuất để giải quyết các  vấn đề cấp bách của suy thoái môi trường và khan hiếm tài nguyên, trong đó tài nguyên  đầu vào, chất thải, khí thải và năng lượng được tối thiểu hóa ngay từ trong quy trình sản  xuất và tiêu dùng từ thiết kế, bảo trì, sửa chữa, tái sử dụng, tái sản xuất, tân trang và tái chế lâu dài dựa trên động lực kinh tế, hướng đến một mô hình kinh tế không phát thải. KTTH  dựa trên ba nguyên tắc chính bao gồm: bảo tồn và tăng cường vốn tự nhiên bằng cách kiểm  soát nguồn dự trữ hữu hạn và cân bằng các dòng tài nguyên tái tạo; tối ưu hóa năng suất tài  nguyên bằng cách luân chuyển các sản phẩm, thành phần và vật liệu ở mức độ cao nhất;  tăng cường hiệu quả của hệ thống bằng cách giảm đến mức tối thiểu các ngoại ứng tiêu cực  như ô nhiễm nước, không khí, đất và tiếng ồn, chất độc hại,… [8].  

Từ việc nhìn thấy những lợi ích của mô hình KTTH như sử dụng hiệu quả chất thải  đầu ra, tiết kiệm tài nguyên đầu vào và tạo ra sản phẩm hàng hóa cạnh tranh trên thị trường, giúp mang lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp thì nhiều doanh nghiệp lớn cũng đã áp dụng KTTH và gần đây đã bắt đầu khuyến khích chuỗi cung ứng của họ cũng  áp dụng KTTH. Tuy nhiên, việc tiếp nhận KTTH ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) rất chậm. Các hoạt động liên quan đến KTTH mà các DNVVN có khả năng thực hiện như  giảm thiểu chất thải, lập kế hoạch về việc sử dụng năng lượng, thiết kế các sản phẩm và  dịch vụ, sử dụng năng lượng tái tạo và sử dụng nước hợp lý.

2. Khả năng thực hành KTTH đối với doanh nghiệp Việt Nam 

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một bộ phận quan trọng trong mô hình kinh  tế tư nhân và chiếm tỉ lệ lớn trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Năm 2019, cả nước  có khoảng 541.753 DNVVN đang hoạt động trong mô hình kinh tế, với tổng số vốn đăng  kí khoảng 130 tỷ USD [1]. Hàng năm, các DNVVN đóng góp 40% GDP, đóng góp 33%  giá trị sản lượng công nghiệp, 30% giá trị hàng hóa xuất khẩu và thu hút gần 60% lao động  [2]. Tuy nhiên, do quy mô nhỏ, nên hoạt động của các doanh nghiệp này gặp khá nhiều khó  khăn như thiếu nguồn vốn để đầu tư vào máy móc, công nghệ hiện đại phục vụ cho sản  xuất, kinh doanh, thiếu kinh nghiệm điều hành doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh, chiếm  lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa còn rất hạn chế [3].  

Về triết lý KTTH và lợi ích của KTTH, hiểu biết của các bên liên quan vẫn còn rất  hạn chế [4]. Các DNVVN hiện nay chủ yếu sản xuất dựa trên mô hình kinh tế tuyến tính,  trên nguyên lý khai thác tài nguyên từ môi trường tự nhiên làm đầu vào cho hệ thống kinh  tế, thông qua quá trình sản xuất, tiêu dùng và cuối cùng thải loại ra môi trường [5]. Do đó,  tính bền vững của các doanh nghiệp (sự phát triển đảm bảo về mặt kinh tế, xã hội và môi  trường) là vấn đề chính của các doanh nghiệp này vì họ chỉ chú trọng đến việc phát triển  kinh tế, việc tuân thủ các mục tiêu môi trường và xã hội mong muốn theo quy định và nhu  cầu toàn cầu ngày càng trở nên khó khăn hơn. Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các DNVVN  ở Việt Nam khá yếu, có rất ít mối liên hệ giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp có  quy mô lớn còn yếu hơn.  

Nhằm đánh giá nhận thức và những lỗ hổng về kiến thức và kỹ năng của các  DNVVN ở Việt Nam đối với mô hình KTTH, chúng tôi thực hiện nghiên cứu khảo sát mối  tương quan giữa các lĩnh vực hành động và hiệu quả bền vững đang được áp dụng tại các  DNVVN, đối chiếu với những hành động và hiệu quả của mô hình cấu trúc KTTH. Từ đó  sẽ xác định rõ các vấn đề và thách thức cần giải quyết để áp dụng phù hợp KTTH vào các  DNVVN thông qua việc xây dựng chiến lược phù hợp nhất, xác định nguồn lực và phát  triển năng lực. 

2.1. Phương pháp khảo sát và phân tích dữ liệu 

Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp thu thập dữ liệu từ các DNVVN của Việt Nam,  bao gồm 300 doanh nghiệp được khảo sát trực tuyến (online) và từ 24 doanh nghiệp được khảo sát trực tiếp. Kết quả khảo sát online những DNVVN Việt Nam cùng các DNVVN  của các nước trong khu vực khác như Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan… đã được công bố trong nghiên cứu trước [3]. Nghiên cứu này tập trung vào kết quả khảo sát và phỏng vấn  trực tiếp 24 DNVVN trên địa bàn Hà Nội và Đà Nẵng. Mục tiêu của khảo sát này hướng  tới phân tích mối quan hệ giữa các thành phần của mô hình KTTH (thiết kế, cung ứng, sản  xuất, phân phối, tiêu dùng và thu hồi sản phẩm) với hiệu quả bền vững (kinh tế, môi trường  và xã hội) của các DNVVN ở Việt Nam theo mô hình cấu trúc như hình 1.

Hình 1. Mối tương quan giữa các lĩnh vực hoạt động của mô hình KTTH [9].

2.2. Tương quan giữa các lĩnh vực hành động của KTTH với hiệu quả bền vững 

Trong số các DNVVN tham gia khảo sát điền phiếu online, có 24 doanh nghiệp được  lựa chọn để khảo sát và phỏng vấn trực tiếp. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp để khảo sát  trực tiếp bao gồm: tính đại diện cho ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy mô doanh nghiệp  và sự tự nguyện tham gia nghiên cứu. Kết quả nhân khẩu học của 24 doanh nghiệp trả lời  hữu dụng với đặc điểm của người trả lời được thể hiện trong bảng 1.  

Bảng 1. Nhân khẩu học của doanh nghiệp

Đặc điểm của đối tượng được phỏng vấn  Số lượng  Tỉ lệ (%)
Loại hình doanh nghiệp Cơ sở sản xuất và chế biến  13  54.2
Nhựa, in bao bì  12.5
Sản xuất hàng may mặc  12.5
Gỗ và giấy  12.5
Loại hình dịch vụ  4.2
Xử lý môi trường  4.2
Tổng  24  100.0
Vị trí/ Chức vụ người trả lời Cấp giám đốc  10  41.7
Cấp quản lý  29.2
Hành chính  20.8
Nhân viên  8.3
Tổng  24  100.0
Số lượng nhân viên <10  12.5
10-50  29.2
51-100  33.3
101-250  25.0
Tổng  24  100.0
% doanh thu tài chính tăng lên trong 5  năm vừa qua Rất cao (>20%)  8.3
Cao (10-20%)  12.5
Trung bình (5-10%)  14  58.3
Thấp (<5%)  16.7
Âm (<0%)  4.2
Tổng  24  100.0
Số doanh nghiệp có chứng nhận môi  trường Có  25.0
Không  18  75.0
Tổng  24  100.0
Số doanh nghiệp có khóa đào tạo phát  triển kĩ năng về Quản lý môi trường cho  nhân viên trong công ty Có  16.7
Không  20  83.3
Tổng  24  100.0
Dự án quản lý môi trường đã thực hiện  trong ba năm qua Có  8.3
Không  22  91.7
Tổng  24  100.0
Dự án về phúc lợi xã hội tại công ty trong  ba năm qua Có  29.2
Không  17  70.8
Tổng  24  100.0

Hiện trạng hoạt động của các DNVVN được tìm hiểu qua việc thiết lập mối tương  quan giữa các lĩnh vực hành động của KTTH với hiệu quả bền vững. Khảo sát được thực  hiện theo các mức đánh giá từ “Rất không đồng ý – Không đồng ý – Trung lập – Đồng ý – Rất đồng ý” tương ứng với thang điểm từ 1-2-3-4-5 được tổng hợp dưới dạng biểu đồ. Kết  quả được thế hiện trên hình 2. 

Hình 2. Kết quả khảo sát doanh nghiệp.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy những doanh nghiệp này đã có nhận thức ban đầu  về những khái niệm liên quan đến mô hình KTTH, tuy nhiên mối quan tâm chưa thực sự được chú trọng khi điểm đánh giá trung bình của các hoạt động này chỉ ở mức 3,57. Các  doanh nghiệp được khảo sát đều hiểu những thách thức gây ra bởi sự khan hiếm tài nguyên  thiên nhiên và biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới doanh thu và tăng trưởng kinh doanh của  mình. Tuy nhiên, chưa có doanh nghiệp nào trong số này nói rằng họ có những kế hoạch  để nâng cao nhận thức và áp dụng thực hành sản xuất thân thiện với môi trường hay những  dự án liên quan đến việc quản lý môi trường hoặc phúc lợi xã hội trong công ty của mình.  

Điều này giải thích tại sao các công ty này vẫn chưa có những kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện các giải pháp kinh tế tuần hoàn, hướng tới xây dựng một doanh nghiệp bền  vững trong dài hạn. Trong đó, những đánh giá cụ thể của doanh nghiệp về từng hoạt động  có tính chu kì trong mô hình KTTH được thể hiện trên hình 3. 

Hình 3. Mức độ đánh giá về các hoạt động có tính chu kì của KTTH.

Mặc dù thấy được những cơ hội của việc áp dụng KTTH nhưng song hành với đó  thì doanh nghiệp cũng gặp phải những thách thức đáng kể của việc thay đổi mô hình kinh  doanh hiện tại (mức đánh giá 3.7). Những cơ hội mà doanh nghiệp nhìn thấy cũng chính là  lợi ích khi họ áp dụng KTTH vào trong sản xuất, kinh doanh của mình. Điều đó không chỉ 

đem lại hiệu quả về kinh tế, nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp, đồng thời mang lại những  ảnh hưởng tích cực tới môi trường và xã hội hiện nay, là động lực chính thúc đẩy các doanh  nghiệp thay đổi mô hình sản xuất kinh doanh. Trong đó, mức độ đánh giá cụ thể của doanh  nghiệp về những tác động của KTTH được thể hiện trên hình 4. 

Hình 4. Mức độ đánh giá về tác động của mô hình KTTH .

3. Phân tích các thách thức cho việc áp dụng KTTH tại các DNVVN Việt Nam 

Các DNVVN được khảo sát hiện nay đều đang vận hành theo mô hình kinh tế tuyến  tính, dựa trên nguyên lý Khai thác – Sử dụng – Thải bỏ. Các doanh nghiệp này ít quan tâm  đến các vấn đề về lượng khí thải cacbon trong quá trình sản xuất đối với môi trường và  thường không chịu trách nhiệm về các sản phẩm của họ sau khi chúng được chuyển sang  giai đoạn phân phối, sử dụng, thậm chí không có ý định thu hồi những sản phẩm đó sau  quá trình sử dụng của khách hàng. Đây là một trong những nguyên nhân gây lãng phí nguồn  tài nguyên tại các doanh nghiệp này khi rác thải không được quay vòng trở lại thành tài  nguyên, đồng thời, khiến cho các ngành sản xuất tạo ra nhiều khí thải cacbon hơn và góp  phần vào quá trình biến đổi khí hậu.  

Các doanh nghiệp được phỏng vấn cho biết rằng họ chỉ đủ khả năng thực hiện thiết  kế sinh thái nếu nó có khả thi về mặt kinh tế, bởi sự cạnh tranh gay gắt trong quá trình kinh  

doanh. Do đó, quá trình sản xuất hiện tại của các doanh nghiệp hầu hết chưa hướng đến mô  hình phát triển bền vững. Các doanh nghiệp này có rất ít sự lựa chọn vật liệu vì các thiết  kế và đặc điểm kỹ thuật cho sản phẩm được thực hiện bởi khách hàng mà không có bất cứ sự tham vấn nào của nhà cung cấp. Hạn chế về nguồn vốn cũng làm ảnh hưởng đến việc  ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất hoặc sử dụng nguồn lao động có trình tay nghề độ cao. Các doanh nghiệp cũng cho biết rằng sản phẩm tái chế gặp rất nhiều khó khăn trong  việc cạnh tranh về giá và tâm lý người tiêu dùng còn nhiều e dè khi sử dụng những sản  phẩm này. 

Vì quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn được phát triển từ quy mô hộ gia đình nên các  doanh nghiệp trên gặp khó khăn về mô hình quản trị, không thể tự mình vận hành được  đầy đủ các hoạt động có tính chu kì của mô hình KTTH mà cần có sự hợp tác của nhiều  doanh nghiệp lại với nhau để tạo thành một mô hình KTTH có hiệu quả. Tuy nhiên, hiện  nay sự liên kết của các doanh nghiệp này rất yếu kém, có rất ít mối liên kết giữa những  DNVVN với nhau hoặc giữa DNVVN với những doanh nghiệp có quy mô lớn khác. Bên  cạnh đó, các DNVVN nói rằng họ thiếu thông tin về mạng lưới KTTH, chưa có kênh liên  kết nào giúp họ có những nhận thức và kết nối về hoạt động theo mô hình KTTH hiện nay. 

Ở Việt Nam, đã xuất hiện những chính sách để khuyến khích việc áp dụng KTTH  vào các quá trình sản xuất trong doanh nghiệp. Luật BVMT sửa đổi năm 2020 đã có điều  khoản số 142 đề cập đến nội hàm mô hình KTTH, tuy nhiên chưa có những hướng dẫn chi  tiết hay quy định cụ thể để thực hiện, chẳng hạn như sử dụng vật liệu tái chế để có thêm  định hướng cho các bên liên quan trong việc áp dụng khiến các doanh nghiệp này gặp khó  khăn khi sử dụng những nguồn nguyên liệu tái chế cho việc quay vòng sản xuất. Ngoài ra,  việc tiếp cận các nguồn lực xã hội, vốn tín dụng, nguồn vốn về các quỹ, về tiếp cận đất đai  để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với các DNVVN,  dẫn đến các vấn đề về phúc lợi xã hội của nhân viên cũng bị hạn chế do thiếu sự hỗ trợ từ các tổ chức công.  

4. Các cơ hội và giải pháp để áp dụng KTTH tại các DNVVN ở Việt Nam 

Để hướng tới chuyển đổi sang mô hình KTTH với các DNVVN ở Việt Nam, Chính  phủ cần có những chính sách về:  

Sử dụng các sản phẩm tái chế hoặc những vật liệu thân thiện với môi trường, hướng  tới xây dựng và phát triển tiêu chuẩn cho các sản phẩm tái chế và vật liệu sinh học; Xem xét áp thuế đối với các sản phẩm tái chế hoặc các sản phẩm từ nguyên liệu sinh  học ít hơn đối với những sản phẩm được làm từ nguyên liệu nguyên sinh, thúc đẩy  cho thị trường của các sản phẩm tái chế phát triển; 

Có các biện pháp liên quan đến dán nhãn sản phẩm, tiêu chuẩn hóa, chứng nhận cho  những sản phẩm xanh giúp người tiêu dùng dễ dàng có những lựa chọn hợp lý. 

Tạo ra một hệ thống trách nhiệm của các doanh nghiệp với các sản phẩm của họ,  đẩy mạnh áp lực của các doanh nghiệp bằng nhóm tiêu chuẩn về chất lượng sản  phẩm và môi trường. 

Bên cạnh đó, Chính phủ cần có những cơ chế, chính sách về tài khóa và tiền tệ nhằm  huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào khâu sản xuất nguyên liệu, phát triển ngành  công nghiệp phụ trợ hỗ trợ các ngành cùng phát triển. Có chính sách rõ ràng để hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sạch, đặc biệt là chính sách thuế, khuyến khích tài trợ hoặc giảm lãi suất ngân hàng. 

Từ nguyên tắc vận hành của các DNVVN hiện nay có thể thấy cơ hội rất lớn để nâng cao năng suất kinh doanh cũng như hiệu quả hoạt động xã hội và môi trường tại các  doanh nghiệp này. Các chiến lược để áp dụng KTTH vào các DN là cách tiếp cận tích hợp  thông qua các hoạt động xuyên suốt chuỗi cung ứng và dựa trên những nguồn lực sẵn có  tại các DNVVN hiện nay như: nguồn nguyên liệu tái sinh, cơ sở hạ tầng truyền thông,  phương tiện và công nghệ cho việc thu hồi, từ đó hướng đến các mục tiêu như: 

Thiết kế và thiết kế lại sản phẩm với sự cộng tác của khách hàng để tối ưu hóa nguồn  tài nguyên, giảm tiêu thụ năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo, khuyến khích sử dụng nhiên liệu sinh học thông qua các hoạt động phân phối và thu hồi; 

Giảm đóng gói hoặc sử dụng các vật liệu đóng gói có thể phân hủy sinh học; Sử dụng 100% vật liệu có thể tái chế; 

Áp dụng công nghệ 4.0 để quản lý dữ liệu trên toàn bộ chuỗi cung ứng, thành lập  các mạng lưới trong mỗi lĩnh vực ngành nghề; 

Đào tạo nhân lực đáp ứng nhận thức về khoa học kĩ thuật và ban quản lý cam kết  vận hành mô hình; 

Áp dụng nhãn sinh thái đối với sản phẩm và hệ thống dịch vụ nhấn mạnh vào việc  sửa chữa nếu có thể.  

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, việc thúc đẩy mô hình KTTH cần dựa  trên các DNVVN nội sinh. Các doanh nghiệp này cần có sự liên kết tạo ra một mạng lưới  để có thể kết nối, chia sẻ thông tin với nhau trong việc áp dụng mô hình KTTH một cách  hiệu quả. Mỗi doanh nghiệp có thể đóng vai trò thực hiện một hoạt động trong chuỗi “Thiết  kế – Cung úng – Sản xuất – Phân phối – Sử dụng – Thu hồi” giúp hình thành nên các cụm  công nghiệp sinh thái.

5. Kết luận 

Thông qua khảo sát thực tế và phân tích nguồn lực hiện có của các DNVVN Việt  Nam, nghiên cứu đã chỉ rõ các thách thức trong việc chuyển đổi từ cách thức kinh doanh  truyền thống sang mô hình KTTH. Nhìn chung, sẽ không có công cụ chính sách đơn lẻ nào  có thể kích hoạt, định hướng lại toàn diện về KTTH cho các DNVVN ở Việt Nam hiện nay 

mà cần phải triển khai các gói chính sách tổng thể trong đó có các công cụ chiến lược. Hơn 

nữa, cần có phạm vi cho các chính sách phát triển tri thức và đổi mới công nghệ. Kết quả này có thể mở rộng nghiên cứu ứng dụng cho từng nhóm ngành cụ thể, làm cơ sở đề xuất  chính sách phát triển các ngành trong sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi  trường. 

NGUYỄN THỊ ÁNH TUYẾT 

Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội), Giám đốc Trung tâm Tri thức Kinh tế tuần hoàn

————————————————————————————————————-

[1] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019), “Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2019”, Nxb  Thống kê, Hà Nội 

[2] Chu Thanh Hải (2020), “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay”,  Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam,  https://www.vass.gov.vn/nghien-cuu-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/phat-trien-doanh nghiep-nho-va-vua-o-viet-nam-hien-nay-96 

[3] Prasanta Kumar Dey, Chrisovaladis Malesios, Debashree De, Pawan Budhwar,  Soumyadeb Chowdhury, Walid Cheffi (2020), “Circular economy to enhance  sustainability of small and medium-sized enterprises” 

[4] Isponre Viet Nam and UNDP (2020), “Analytical report: Case Studies and Best  Practices Applying circular economy principles to the Vietnamese context” 

[5] Nguyễn Thế Chinh (2019), “Cơ hội và thách thức cho phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam”, Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường,  https://isponre.gov.vn/home/dien-dan/1804-co-hoi-va-thach-thuc-cho-phat-trien-kinh-te tuan-hoan-o-viet-nam 

[6] Ellen MacArthur Foundation (2012), Towards the circular economy: Economic and  business rationale for an accelerated transition,  https://www.ellenmacarthurfoundation.org/assets/downloads/publications/Ellen MacArthur-Foundation-Towards-the-Circular-Economy-vol.1.pdf 

[7] Luật Bảo vệ môi trường (2020), Luật số 72/2020/QH14, Điều 142,  http://congbao.chinhphu.vn/noi-dung-van-ban-so-72-2020-qh14-32703 

[8] Ellen MacArthur Foundation (2015), Delivering the circular economy a toolkit for  policymakers,  

https://www.ellenmacarthurfoundation.org/assets/downloads/publications/EllenMacArthu rFoundation_PolicymakerToolkit.pdf 

[9] Nguyễn Thị Ánh Tuyết và cộng sự (2021), Báo cáo tổng kết dự án “Trung tâm tri thức  về Kinh tế tuần hoàn: Thúc đẩy Nghiên cứu đa ngành, nâng cao năng lực và khả năng lãnh  đạo do Newton Fund tài trợ”, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học  Bách Khoa Hà Nội.

Bạn đang đọc bài Khả năng thực hành kinh tế tuần hoàn đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam tại chuyên mục Góc nhìn.
Cung cấp thông tin, liên hệ đường dây nóng:
03694529040977600308.
Hoặc Email: [email protected]
[email protected]