Khó hội nhập nếu cứ diễn dịch luật bất lợi cho doanh nghiệp

(KDPT – Việt Nam đang là tâm điểm hấp dẫn nhất trong khối Asean đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhưng doanh nghiệp trong nước vẫn bị đối xử kiểu “con đẻ, con nuôi”.

Cần giảm “độ vênh” giữa chính sách và thực tế
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 6 tháng đầu năm nay, tổng số lượng dự án đầu tư lên tới 1.700 dự án, tăng 26% so với cùng kỳ năm ngoái.
Còn theo số liệu thống kê của công ty Nomura Holdings, Inc., từ tháng 5/2018 – tháng 8/2019, có 56 dự án lớn từ Trung Quốc đang muốn chuyển dịch vào Việt Nam, cho thấy Việt Nam đang là tâm điểm hấp dẫn nhất trong khối Asean đối với nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Ảnh minh họa.

Tại diễn đàn CFO Việt Nam 2019 lần thứ 11 tổ chức tại TP.HCM mới đây, nhiều diễn giả cho rằng môi trường đầu tư tại Việt Nam đang rất cởi mở, tuy nhiên, vẫn còn “độ vênh” giữa chính sách và thực tế. Mặc dù, Chính phủ và Quốc Hội thường xuyên sửa đổi luật và cập nhật theo tình hình mới của thị trường và phù hợp với các hiệp ước thương mại mà Việt Nam tham gia.
Theo bà Hương Vũ, Tổng Giám đốc công ty Tư vấn EY Việt Nam, trong khi Chính phủ Việt Nam đã có nhiều cải tổ để làm sao môi trường đầu tư thực sự hấp dẫn, nhưng đối với các doanh nghiệp trong nước vẫn phải cải thiện nhiều hơn nữa. Thực tế, hải quan hay cơ quan thuế các địa phương khi thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp lại diễn giải luật định theo hướng “bất lợi” cho doanh nghiệp, gây ra nhiều bức xúc.
Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, người đã tham gia vào việc sửa đổi Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp cho biết, câu chuyện thực tế là luật một nẻo, thực thi luật một đằng khiến cho 3 năm gần đây, các vụ khiếu kiện của doanh nghiệp với các cục thuế địa phương ngày càng dày đặc. Nhiều cơ quan thuế địa phương diễn giải về các khoản như hoàn thuế luôn được hiểu theo nhiều cách và không đồng nhất.
Trong thời gian tới sẽ có nhiều thay đổi về bộ Luật Quản lý thuế, Luật Phòng chống Tham nhũng, Luật Đầu tư công… Nhưng quan trọng nhất vẫn là sự thay đổi trong Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp. Dù hai luật này mới có hiệu lực năm 2014, nhưng 02 năm thực thi đã phải sửa đổi, bổ sung vì nhu cầu thực tế thay đổi quá nhanh.
Do đó, được sửa đổi theo hướng: Thứ nhất, Thủ tướng được giao nhiều quyền hơn trong các quyết định về chủ trương đầu tư cho các dự án và các nhà đầu tư. Chẳng hạn, lần đầu tiên có sự hỗ trợ của Nhà nước về tiền mặt cho các dự án quan trọng.
Thứ hai, lần đầu tiên đề xuất Thủ tướng là người có quyền quyết định đối với những dự án lớn mà không cần phải thông qua Quốc Hội, nhưng không vượt quá 50% so với mức cao nhất mà Quốc Hội đã thông qua (Luật Đầu tư công đã quy định những dự án có mức vốn đầu tư trên 10.000 tỷ đồng phải được Quốc hội thông qua).
Thứ ba, một số dự án theo luật cũ phải trình Thủ tướng Chính phủ (quy mô 5.000 tỷ đồng), nhưng luật mới quy định nếu dự án đáp ứng đủ điều kiện quy định của luật thì không cần phải trình Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương đầu tư.
Cuối cùng, đối với các dự án lớn của Hà Nội và TP.HCM, Thủ tướng trực tiếp phê duyệt đầu tư mà không phải đưa ra Quốc Hội như trước đây.
Những đổi mới ở trên là những thuận lợi có thể thu hút được những dự án đầu tư lớn từ nước ngoài.
Về Luật Doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung theo hướng tập trung theo hướng cắt giảm thủ tục hành chính… tạo sự đồng nhất trong việc đăng ký doanh nghiệp trên cả nước, không có sự khác biệt giữa các tỉnh, thành phố.
Đơn cử như việc cho thuê nhà diễn ra rất phổ biến tại nhiều tỉnh, thành phố, nhưng để cho thuê nhà được thì thủ tục tại các địa phương là khác nhau. Chẳng hạn, tại TP.HCM, một cá nhân muốn cho thuê nhà chỉ cần ký hợp đồng với bên thuê và xác nhận công chứng là xong. Tuy nhiên, tại Hà Nội, cá nhân có nhà cho thuê phải đăng ký kinh doanh, lấy mã số thuế… rất phức tạp.