Tiềm năng phát triển và tầm quan trọng của ngành Địa chất

Trải qua 78 năm xây dựng và phát triển (2/10/1945 - 2/10/2023), ngành địa chất Việt Nam luôn phát huy được truyền thống vẻ vang, sáng tạo và đạt được nhiều thành tựu nổi bật. Tiêu biểu là các công trình địa chất có giá trị về mặt khoa học, kinh tế - xã hội đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Trong quá trình phát triển, mặc dù có những thay đổi về tổ chức, số lượng viên chức, người lao động có giảm, nhưng ngành địa chất Việt Nam luôn phát huy truyền thống để phát triển, đạt được nhiều kết quả, thành tựu gắn với nhiều dấu mốc lịch sử.

Ngành Địa chất mang đến nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh minh họa

Ngành địa chất Việt Nam đã tổ chức nhiều đề án Chính phủ, đề án cấp Bộ về điều tra, đánh giá nhằm xác định tổng thể tài nguyên khoáng sản phục vụ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội các tỉnh, thành phố. Ngành đã kịp thời đưa vào quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản giai đoạn 2021 -2030 hàng trăm diện tích có tài nguyên khoáng sản tin cậy của 60 loại hình khoáng sản. Kết quả mang lại nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước thông qua đấu giá cấp quyền thăm dò, khai thác khoáng sản.

Với công tác điều tra địa chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, Ngành đã điều tra, đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, địa chất công trình; đề xuất các giải pháp khai thác sử dụng lãnh thổ phục vụ xây dựng và phát triển hạ tầng dải ven biển Việt Nam.

Nhận rõ vai trò và tầm quan trọng ngành địa chất, trong Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng “Chiến lược địa chất, khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, lần đầu tiên đưa nội dung quản lý nhà nước về địa chất vào pháp luật; giao xây dựng Luật Địa chất và khoáng sản.

Nâng cao ứng dụng công nghệ và đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số

Trong thời gian tới, ngành địa chất Việt Nam sẽ phối hợp chặt chẽ với các đơn vị, bộ, ngành, lĩnh vực có liên quan xây dựng Luật Địa chất và Khoáng sản trình Quốc hội xem xét ban hành trong năm 2024. Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá các dạng công việc điều tra cơ bản địa chất, điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. Tiếp tục xây dựng, đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý đáp ứng yêu cầu mới ngành địa chất; tăng cường năng lực chuyên môn, công nghệ hiện đại, chuyển đổi số trong điều tra cơ bản địa chất; ưu tiên điều tra, đánh giá tài nguyên khoáng sản biển.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Cục Địa chất Việt Nam cho biết để hướng tới chuyển đổi số ngành địa chất trong thời gian tới, Cục Địa chất Việt Nam đang nỗ lực và đẩy mạnh trang bị các thiết bị hiện đại cũng như ứng dụng công nghệ số. Theo đó, xây dựng và ban hành các quy định kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực địa chất theo hướng chuyển số ngay trong quá trình điều tra cơ bản địa chất; tiếp tục chuyển đổi các dữ liệu đã được số hóa trước đây theo phù hợp với nền tảng dữ liệu lớn.

Khai thác dữ liệu điều tra cơ bản địa chất, dữ liệu lớn là giải pháp đột phá làm nòng cốt chuyển đổi số phục vụ giải quyết các bài toán có tính chuyên môn sâu. Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao kiến thức, năng lực kỹ thuật nhằm đảm bảo khả năng ứng dụng công nghệ mới, đủ trình độ để chuẩn hóa và tái cơ cấu quy trình nghiệp vụ phù hợp với thực tiễn.

Về công nghệ cần triển khai giải pháp thu nhận, lưu trữ, quản lý thông tin, dữ liệu được chia sẻ, kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành địa chất; thiết lập môi trường chia sẻ, kết nối thông tin, dữ liệu trên cơ sở sử dụng nền tảng chia sẻ, tích hợp quốc gia; ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ mới: Big data, IoT, dữ liệu mở, điện toán đám mây…

Về thiết bị hạ tầng công nghệ thông tin về máy chủ, các nền tảng, dịch vụ dùng chung, đã và đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường đầu tư tập trung, Cục Địa chất Việt Nam tập trung phát triển, xây dựng các bài toán cho từng chuyên ngành. Đối với các đơn vị trong ngành, cần thực hiện việc triển khai đồng bộ các hệ thống phần cứng như: máy tính, máy tính bảng cầm tay; các thiết bị đo đạc hiện trường được định vị chính xác, lưu trữ và truyền dữ liệu về máy chủ đơn vị; nâng cấp hạ tầng truyền dẫn băng thông rộng; ứng dụng nhật ký địa chất số; sổ đo ghi số...

Ứng dụng công nghệ mô hình địa chất 3D. Ảnh: Công nghệ phần mềm Leapfrog Geo

Về phần mềm, Cục Địa chất Việt Nam cần đầu tư tập trung đơn vị đủ mạnh để khai thác, sử dụng hiệu quả các phần mềm chuyên môn sâu như: Tính tài nguyên, trữ lượng khoáng sản; địa vật lý, viễn thám, mô hình địa chất 3D, bản đồ địa chất 3D.

Hy vọng trong thời gian tới cùng với việc triển khai chuyển giao chuyển đổi số cũng như nâng cao ứng dụng công nghệ, ngành địa chất sẽ có những bước chuyển mình mạnh mẽ, hiện đại theo mô hình tiên tiến, bắt kịp xu thế mới của thế giới.

Ngành cũng cần chú trọng đào tạo, bổ sung đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật, chuyên gia có trình độ cao và công nhân lành nghề cho ngành địa chất, khoáng sản, đi đôi với thực hiện chính sách thu hút nhân tài. Cùng với đó, nỗ lực đẩy mạnh hợp tác, học tập kinh nghiệm quốc tế trong nghiên cứu, điều tra các khoáng sản ẩn sâu; trong xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về địa chất, khoáng sản, không gian ngầm và quản trị tài nguyên khoáng sản. Sử dụng công nghệ, thiết bị khai thác thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 trước năm 2050.