Đề xuất định hướng thúc đẩy thị trường tín dụng phát triển
Tại Diễn đàn “Thị trường tín dụng và những vấn đề kinh tế vĩ mô” diễn ra ngày 24/12, TS. Lê Xuân Sang - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và thế giới cho biết Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn trong huy động nguồn tài lực. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn nhiều điểm nghẽn, rào cản liên quan đến tính mất cân đối (hơn 50% vốn đến từ lĩnh vực ngân hàng; thể chế, quy trình-thủ tục, thị trường-sản phẩm-kênh đầu tư và quản lý rủi ro... Do đó, cần có Chiến lược tổng thể về huy động, phân bổ và sử dụng nguồn tài lực; gắn với tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng. Việc cải cách khu vực thị trường tài chính là cấp thiết.
Theo đó, TS. Lê Xuân Sang đề xuất một số định hướng, trong đó đối với nguồn vốn, cần tiếp tục đa dạng hóa nguồn vốn tín dụng ngân hàng thông qua thúc đẩy thị trường chứng khoán, nhất là trái phiếu, tập trung phát triển các tổ chức xếp hạng tín dụng/tín nhiệm; Lành mạnh hóa thị trường cổ phiếu thông qua kiểm soát chặt các đòn bẩy phi chính thức quá cao; kiểm soát các fintech chứng khoán; xem xét quản lý hiệu quả hơn các hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán; Tăng cung và cầu nhà ở giá hợp lý thông qua cơ chế ưu đãi tín dụng ràng buộc (kinh nghiệm Mỹ); Ban hành đầy đủ các quy định liên quan đến quản lý tín dụng xanh của ngân hàng thương mại (các chuẩn mực cấp tín dụng, đánh giá rủi ro); Hoàn thiện hệ thống dự báo, cảnh báo rủi ro tín dụng trong liên quan để các kênh huy động, đầu tư khác hiệu quả.
Với lĩnh vực đầu tư, TS. Lê Xuân Sang cho rằng, để tăng lĩnh vực đầu tư đáp ứng yêu cầu thúc đẩy tăng trưởng cao nói chung và ít gây hệ lụy về lạm phát, kém hiệu quả, trước hết ưu tiên các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh cao, trong đó có ngành năng lượng tái tạo (nhất là điện gió ngoài khơi, mặt trời).
Các ngành năng lượng phục vụ quá trình chuyển đổi số (tiêu hao nhiều nguyên liệu); thúc đẩy phát triển hệ thống thương mại điện tử trong nước và xuyên biên giới giúp thúc đẩy tăng trưởng song ít gây lạm phát; nghiên cứu tính hữu hiệu trong đầu tư các ngành tương đối mới như kinh tế tầm thấp, kinh tế bạc...; đẩy mạnh, quyết liệt hơn và chuyên nghiệp hơn phát triển hệ thống ươm tạo công nghệ giúp tăng năng suất, cạnh tranh và ít gây lạm phát.
TS. Sang nhấn mạnh rằng cần xây dựng cơ chế đầu tư nhanh và phục vụ cải cách hành chính (thông qua xây dựng nhà công vụ, chuyển đổi công năng các cơ sở nhà văn phòng sang hỗ trợ doanh nghiệp, giúp đầu tư nhanh và sớm ổn định nhân lực địa phương; nghiên cứu các cơ chế cho vay đầu tư/thuê nhà giá hợp lý (gắn ưu đãi thuê với mức giá cho thuê...); sớm đầu tư, hoàn thiện hệ thống quy hoạch quốc gia, địa phương sau cải cách hành chính giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
TS. Lê Xuân Sang cũng cho rằng, trong 5-10 năm tới, Việt Nam cần tập trung đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán, phát triển các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh cao như năng lượng tái tạo, thương mại điện tử và hệ sinh thái ươm tạo công nghệ. Những lĩnh vực này có khả năng nâng cao năng suất mà ít tạo áp lực lạm phát, qua đó giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Theo các chuyên gia, tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2026-2030 không thể tiếp tục chạy theo quy mô, mà buộc phải chuyển sang chiều sâu, gắn với tái cấu trúc nguồn vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ và kiểm soát rủi ro hệ thống. Khi tín dụng được đặt đúng vai trò trong một cấu trúc tài chính cân bằng hơn, với thị trường vốn và đổi mới sáng tạo làm trụ cột, tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt được theo các mục tiêu đề ra.
Đẩy mạnh phát triển mạnh thị trường vốn, trái phiếu bền vững
Cũng nêu quan điểm cần nhìn lại bài học từ quá trình phát triển thị trường tiền tệ hơn 20 năm qua để có cách điều tiết dòng tín dụng phù hợp trong nền kinh tế, ông Phạm Xuân Hòe, nguyên Phó viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước) đề xuất, cần xem xét những rủi ro hệ thống khi phụ thuộc quá mức vào vốn ngân hàng. Quá khứ từng có một số bài học cần thiết cho giai đoạn hiện nay. Đó là bài học từ thời kỳ “vỡ” quỹ tín dụng nhân dân những năm cuối thập niên 1980, giai đoạn tái cấu trúc các ngân hàng thương mại nhà nước từ vụ Epco Minh Phụng cuối thập niên 1990, giai đoạn tái cơ cấu và mua lại các ngân hàng 0 đồng năm 2011-2015, “sự cố SCB” năm 2022.
Ở giai đoạn hiện nay, theo ông Hòe, bên cạnh tỷ trọng mức tín dụng/GDP đã lớn, các vấn đề đáng lưu ý là: Dư nợ tín dụng bất động sản trong nền kinh tế đã lên mức 4,1 triệu tỷ đồng, chiếm tới gần 24% tổng dư nợ, nhiều ngân hàng có dư nợ bất động sản rất lớn; lãi suất liên ngân hàng có lúc tăng cao; chênh lệch giữa huy động và cho vay lớn; cơ cấu nguồn vốn huy động đến 80% là ngắn hạn, nhưng tỷ trọng cho vay trung và dài hạn lên đến 45-48%; tỷ trọng bao phủ nợ xấu của hệ thống ngân hàng giảm xuống mức 80% từ mức trên 100% của những năm trước.
Từ bài học của những giai đoạn trước, ông Hòe khuyến nghị, cần xem xét lại cơ cấu phân bổ tín dụng, có các giải pháp phù hợp về điều tiết tín dụng để giảm rủi ro với cả nền kinh tế, đồng thời, tránh tình trạng điều hành “giật cục”. Theo ông Hòe, việc rất quan trọng là cần phát triển mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu bền vững, cân bằng với thị trường tiền tệ; phát triển kênh cung ứng vốn trung dài hạn từ định chế cho vay không nhận tiền gửi, như cho thuê tài chính, cho thuê vận hành, tài chính tổng hợp.../.