Chủ tịch UBND TP.Hà Nội Vũ Đại Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 19/2026/QĐ-UBND ngày 02/02/2026 về việc ban hành hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Quyết định này quy định về hệ số điều chỉnh giá đất trên địa bàn thành phố Hà Nội theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội.
Đối tượng áp dụng gồm cơ quan có chức năng quản lý đất đai; Văn phòng đăng ký đất đai; cơ quan thuế và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Theo quyết định, hệ số điều chỉnh giá đất (K) đối với các loại đất ban hành kèm theo Nghị quyết số 52/2025/NQ-HĐND của HĐND Thành phố được quy định:
(1) Hệ số điều chỉnh giá đất (bao gồm hệ số quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ) đối với các loại đất ban hành kèm theo Nghị quyết số 52/2025/NQ-HĐND của HĐND Thành phố làm căn cứ tính tiền bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là: K=1.
(2) Hệ số điều chỉnh giá đất (bao gồm hệ số quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP của Chính phủ) đối với các loại đất ban hành kèm theo Nghị quyết số 52/2025/NQ-HĐND của HĐND Thành phố làm căn cứ tính tiền, thuế, phí của các trường hợp thuộc phạm vi áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai năm 2024 là: K=1.
(3) Hệ số điều chỉnh giá đất đối với các loại đất ban hành kèm theo Nghị quyết số 52/2025/NQ-HĐND của HĐND Thành phố làm căn cứ tính tiền các trường hợp thực hiện dự án đầu tư khu công nghiệp, cụm công nghiệp (quy định tại Điều 202 Luật Đất đai 2024), xác định giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất, các trường hợp khác thực hiện dự án đầu tư không có mục đích hỗn hợp theo quy hoạch xây dựng thuộc phạm vi áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 160 Luật Đất đai năm 2024 là:
Hệ số điều chỉnh mức biến động thị trường: K= 1 (bằng chữ: một).
Hệ số điều chỉnh theo quy hoạch: K = 1,x. Trong đó, x được xác định trên cơ sở hệ số sử dụng đất của Dự án quy định tại phụ lục ban hành kèm theo Quyết định này.
Hệ số điều chỉnh theo các yếu tố ảnh hưởng: Đối với các dự án sử dụng đất thương mại, dịch vụ, các dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới, khu đấu giá, khu nhà ở thương mại gần (trong phạm vi bán kính 500m) trung tâm hành chính, trung tâm thương mại, trung tâm văn hóa, thể thao, cơ sở giáo dục và đào tạo; công viên, khu vui chơi giải trí, khu danh thắng (không bao gồm đền, chùa, miếu) hoặc dự án được phê duyệt quy hoạch có trung tâm hành chính, trung tâm thương mại, trung tâm văn hóa, thể thao, cơ sở giáo dục và đào tạo; công viên, khu vui chơi giải trí, khu danh thắng (không bao gồm đền, chùa, miếu, mạo): K= 1,1 (bằng chữ: một phẩy một). Đối với các trường hợp khác: K = 1 (bằng chữ: một).
Trước đó, chiều 26/11/2025, tại kỳ họp thứ 28, HĐND TP. Hà Nội đã chính thức thông qua Nghị quyết về việc ban hành Bảng giá đất lần đầu, sẽ áp dụng từ ngày 1/1/2026 trên địa bàn Thủ đô.
Theo nghị quyết, bảng giá đất được phân loại gồm: đất phi nông nghiệp, đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Đất phi nông nghiệp được chia thành 4 vị trí dựa trên các tiêu chí về mặt tiếp giáp với đường, ngõ. Cụ thể: Vị trí 1 áp dụng cho thửa đất có ít nhất một mặt giáp với đường (phố) hoặc ngõ lớn; Vị trí 2 áp dụng cho thửa đất giáp ngõ, ngách, hẻm, lối đi từ 3,5 m trở lên; Vị trí 3 áp dụng cho thửa đất giáp ngõ có mặt cắt từ 2 m đến dưới 3,5 m; Vị trí 4 áp dụng cho thửa đất giáp ngõ nhỏ hơn 2 m.
Theo bảng giá mới, đất phi nông nghiệp tại Hà Nội được điều chỉnh tăng từ 2-26% so với hiện hành. Khu vực nội đô chỉ tăng trung bình khoảng 2%, trong khi các vùng ngoại thành, đặc biệt những khu vực đang phát triển “nóng”, mức tăng dao động từ 15-26%. Đất nông nghiệp cao nhất giữ nguyên mức 290.000 đồng/m², không thay đổi so với hiện tại.
Khu vực 1 (các phường trong vành đai 1) có giá cao nhất, gồm Tây Hồ, Ngọc Hà, Ba Đình, Giảng Võ, Ô Chợ Dừa, Hoàn Kiếm, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Cửa Nam, Hai Bà Trưng.
Trong đó, giá đất ở khu vực này cao nhất là hơn 702 triệu đồng/m², với thửa giáp mặt đường (vị trí 1) tại loạt tuyến đường như Bà Triệu (đoạn từ Hàng Khay đến Trần Hưng Đạo), Đinh Tiên Hoàng, Hai Bà Trưng (đoạn từ Lê Thánh Tông đến Quán Sứ).
Tương tự, các tuyến đường Hàng Đào, Hàng Khay, Hàng Ngang, Lê Thái Tổ, Lý Thường Kiệt, Nhà Thờ và Trần Hưng Đạo (đoạn Trần Thánh Tông đến Lê Duẩn) cũng có giá cao nhất lên tới 702 triệu đồng/².
Các khu vực nội đô khác, từ vành đai 2 đến vành đai 3, cũng tăng khoảng 2%. Đất tại các xã ngoại thành có biến động mạnh hơn, như khu vực 9 gồm Liên Minh, Ô Diên, Đan Phượng, Hoài Đức, Dương Hòa, Đông Sơn, An Khánh tăng 26%, với mức giá trung bình 30,4 triệu đồng/m², trong khi hiện tại là 26,8 triệu đồng/m². Các thửa đất giáp quốc lộ 32 đoạn Xuân Phương – khu đô thị Kim Chung Di Trạch đạt 64,7 triệu đồng/m². Khu vực 7 và 10 cũng ghi nhận mức tăng khoảng 25%.
Theo nghị quyết, trong các trường hợp đặc biệt, thửa đất có ít nhất 4 mặt tiếp giáp với đường có tên trong bảng giá, thì được nhân hệ số điều chỉnh (hệ số K) bằng 1,3 nơi có giá đất cao nhất. Còn các thửa có từ 1 đến 3 mặt tiếp giáp với đường sẽ có hệ số K dao động 1,1-1,25./.