Nguồn dầu khí Việt Nam đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới
Theo số liệu từ Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), Chứng khoán Dầu khí cho biết, sản lượng khai thác dầu thô trong nước đã giảm trung bình khoảng 10% mỗi năm, do các mỏ chủ lực như Bạch Hổ, Rạng Đông, Sư Tử Đen... đã bước vào giai đoạn suy kiệt sau hơn 40 năm khai thác liên tục. Diễn biến tương tự cũng xảy ra với mỏ khí, khi sản lượng khai thác giảm với tốc độ tăng trưởng âm (CAGR) khoảng 5%/năm.
Chứng khoán Dầu khí đánh giá khu vực thượng nguồn dầu khí Việt Nam đang bước vào chu kỳ tăng trưởng mới với loạt chính sách thuận lơi, tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục và cơ chế đầu tư.
Trước hết, Nghị quyết 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị nhấn mạnh phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới gắn với cam kết trung hòa carbon vào năm 2050, qua đó tạo nền tảng chiến lược cho các hoạt động thăm dò, khai thác (E&P) dầu khí trong nước.
Đồng thời, Nghị quyết 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị khẳng định vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực then chốt như an ninh năng lượng. Qua đó, tạo dư địa để Petrovietnam và các đơn vị thành viên được ưu tiên các nguồn lực để triển khai các dự án chiến lược, quy mô lớn, cũng như thúc đẩy tái cơ cấu, thoái vốn ngoài ngành và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Doanh nghiệp dầu khí Việt Nam hưởng lợi
Trên bối cảnh vĩ mô và ngành, triển vọng các doanh nghiệp dầu khí niêm yết trong năm 2026 cho thấy ưu thế thuộc về nhóm thượng nguồn và một số doanh nghiệp hạ nguồn hưởng lợi từ chi phí đầu vào thấp. Trong đó, nhóm thượng nguồn hưởng lợi lớn nhất từ khối lượng công việc khổng lồ.
Cụ thể, Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã cổ phiếu: PVS) được Chứng khoán Dầu khí đánh giá là bên hưởng lợi hàng đầu nhờ khối lượng backlog (đơn hàng tồn đọng) cao kỷ lục trong mảng cơ khí & xây lắp (M&C), ước đạt 3,9 tỷ USD trong giai đoạn 2025 - 2030. Tăng trưởng kết quả kinh doanh những năm tới dự kiến được thúc đẩy bởi việc ghi nhận từ các dự án dầu khí như Lô B - Ô Môn, Lạc Đà Vàng và dự án điện gió ngoài khơi Greater Changhua 2b&4 (Đài Loan, Trung Quốc).
Báo cáo tài chính hợp nhất quý I của Tổng Công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ khoan Dầu khí (PV Drilling) cho thấy doanh thu thuần ba tháng đầu năm đạt 3.401 tỷ đồng, tăng 126% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 300 tỷ đồng, tăng 110%.
Động lực tăng trưởng đến từ các mảng cốt lõi. Dịch vụ khoan đóng góp 2.162 tỷ đồng, chiếm 64% tổng doanh thu và tăng 147%. Dịch vụ kỹ thuật giếng khoan mang về 1.007 tỷ đồng, tương đương 30% doanh thu, tăng 72%. Hoạt động bán hàng hóa đạt 233 tỷ đồng, tăng 447% so với cùng kỳ.
Kết quả này chủ yếu nhờ số lượng giàn khoan hoạt động gia tăng. Trong kỳ, số giàn khoan sở hữu hoạt động bình quân đạt 4,8 giàn, so với 3 giàn cùng kỳ, sau khi giàn PV Drilling VIII đi vào vận hành từ tháng 9/2025. Số giàn thuê cũng tăng lên bình quân 3,5 giàn, so với mức 1 giàn một năm trước.
Bước sang năm 2026, cổ đông PV Drilling thông qua kế hoạch kinh doanh theo hướng thận trọng, với doanh thu hợp nhất dự kiến 11.185 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế khoảng 800 tỷ đồng, giảm 23% so với năm trước. Kế hoạch này được xây dựng trước khi xung đột Trung Đông leo thang.
Doanh nghiệp cho biết kế hoạch này được xây dựng dựa trên giả định có 5 giàn khoan hoạt động xuyên suốt năm. Trong đó, giàn PV Drilling IX dự kiến vận hành từ quý II với đơn giá thuê giàn tự nâng trung bình khoảng 90.000 USD mỗi ngày. Ngoài ra, công ty duy trì một giàn khoan TAD hoạt động tại Brunei và vận hành thêm hai giàn khoan thuê.