Việc Việt Nam tiếp tục nằm trong Danh sách Theo dõi ưu tiên về sở hữu trí tuệ (SHTT) của Mỹ năm 2026 cho thấy áp lực ngày càng lớn đối với quốc gia trong việc tăng cường bảo hộ sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế số. Trong bối cảnh vi phạm bản quyền trực tuyến ngày càng tinh vi, Công điện số 38/CĐ-TTg được ban hành như một tín hiệu mạnh mẽ khẳng định tinh thần thượng tôn pháp luật và cam kết của Việt Nam trong việc siết chặt thực thi quyền SHTT.
Được Thủ tướng Chính phủ phát động vào tháng 5/2026, Công điện số 38/CĐ-TTg đánh dấu một bước đi chiến lược nhằm tăng cường trấn áp các hành vi xâm phạm SHTT. Một trong những thay đổi đáng chú ý nhất là sự chuyển dịch từ chủ yếu xử phạt hành chính sang tăng cường truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời từng bước khắc phục các lỗ hổng thực thi thông qua những quy định chi tiết hơn trong Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi.
Với 30 năm kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực hoạt hình và truyền thông số, ông Ricardo Arce, Chủ nhiệm bộ môn Thiết kế (Truyền thông số) tại Đại học RMIT Việt Nam, nhận định công điện này là “một bước củng cố cần thiết”.
Ông cho rằng công điện được ban hành trong bối cảnh quốc tế rộng lớn hơn, khi Việt Nam tiếp tục nằm trong Danh sách theo dõi ưu tiên về SHTT của Hoa Kỳ năm 2026 là hồi chuông cảnh báo đối với uy tín của quốc gia trong bối cảnh nền kinh tế số.
Từ kinh nghiệm nghề nghiệp, giảng viên Christian Berg cho rằng khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn thực thi vẫn còn khá lớn.
“Với tư cách là một nhiếp ảnh gia làm việc tại Việt Nam, tôi đã nhiều lần chứng kiến hình ảnh của mình bị các trang web thương mại sử dụng mà không ghi nguồn, không trả phí hay xin phép”, ông Berg chia sẻ.
“Kiểu vi phạm này khá phổ biến, được nhiều người biết đến nhưng thường không được giải quyết triệt để. Các nhà sáng tạo cá nhân tại Việt Nam hiếm khi có đủ nguồn lực và hỗ trợ pháp lý để tự theo đuổi các vụ việc này, khiến ngay cả những chỉ thị tích cực cũng khó phát huy hiệu quả ở cấp độ cá nhân”.
Ông cũng cho rằng bất kỳ cuộc thảo luận nào về bảo vệ SHTT tại Việt Nam đều cần nhìn nhận thêm yếu tố nhu cầu tiêu dùng dẫn đến nạn vi phạm bản quyền.
“Các nội dung quốc tế như phim ảnh, chương trình truyền hình, thể thao phát sóng trực tiếp, trò chơi và âm nhạc trước đây thường đến Việt Nam chậm, bị giới hạn hoặc thậm chí không xuất hiện”, ông nói.
“Một số kênh truyền hình quốc tế cũng đã rút khỏi thị trường nội địa. Khi việc tiếp cận hợp pháp bị hạn chế, quá đắt đỏ hoặc đơn giản là không khả dụng, người tiêu dùng có xu hướng tìm đến các lựa chọn không được cấp phép”.
Ông Arce nhìn nhận việc bảo vệ SHTT có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ ngành công nghiệp số nói chung và ngành hoạt hình Việt Nam nói riêng, trong bối cảnh hoạt hình Việt Nam hiện đóng góp khoảng 10-15% doanh thu toàn ngành điện ảnh của cả nước.
“Tuy nhiên, sự tăng trưởng này phụ thuộc và được củng cố bởi việc thực thi hiệu quả quyền SHTT”, ông nói.
Ông Arce đưa ra bốn khuyến nghị thực tiễn dành cho các nhà sáng tạo nội dung số hoạt động tại Việt Nam.
Thứ nhất, các nhà sáng tạo nên đăng ký bản quyền chính thức và lưu giữ bằng chứng về nguồn gốc, quyền sở hữu cũng như quá trình tạo ra nội dung, bao gồm metadata và hồ sơ quá trình thực hiện như ảnh chụp màn hình, ghi hình màn hình, tệp tin về dự án hoặc tư liệu hậu trường, tùy theo từng loại tác phẩm.
Thứ hai, các nhà sáng tạo nên tham gia các hiệp hội ngành nghề nhằm củng cố cộng đồng sáng tạo và tiếp cận các nguồn lực, thông tin, hoạt động vận động chính sách và đại diện quyền lợi liên quan.
Thứ ba, ông Arce cho rằng các nhà sáng tạo cần hiểu rằng công điện này “hoạt động như một con đường hai chiều”.
“Công điện không chỉ thúc đẩy việc sử dụng công bằng các sản phẩm sáng tạo, giúp nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà văn, nhạc sĩ và tất cả những người tham gia hệ sinh thái công nghiệp sáng tạo được hưởng lợi từ tác phẩm của mình, mà còn thúc đẩy tất cả các bên trong chuỗi giá trị, từ nhà sáng tạo đến chủ sở hữu bản quyền, tham gia chủ động và có tổ chức để hệ thống vận hành hiệu quả”, ông nói.
“Ví dụ, việc sử dụng phần mềm có bản quyền trong quá trình sáng tạo cũng là cách để làm gương”.
Cuối cùng, ông khuyến khích các nhà sáng tạo và các bên trong ngành xem việc tăng cường thực thi sở hữu trí tuệ tại Việt Nam là “một cơ hội để nâng cao hiện diện và vị thế quốc tế thông qua việc lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam phong phú, đồng thời phát triển mạnh mẽ hơn văn hóa số và chủ quyền số trong nước”./.