Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1091/QĐ-TTg phê duyệt Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước giai đoạn 2026-2030. Đề án tập trung phát triển các lĩnh vực then chốt gồm hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược và an ninh mạng, nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt và dư địa của mô hình tăng trưởng dựa trên lao động giá rẻ dần thu hẹp, việc xây dựng các tập đoàn công nghệ lớn được xem là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao năng suất, gia tăng giá trị nội địa và củng cố năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đây cũng là bước đi cần thiết để Việt Nam chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ làm chủ, phát triển và thương mại hóa một số công nghệ chiến lược then chốt.
Các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn sẽ làm chủ, phát triển và thương mại hóa một số công nghệ chiến lược then chốt.

Không chỉ là doanh nghiệp lớn, mà là doanh nghiệp làm chủ công nghệ

Điểm đáng chú ý của Đề án là tiêu chí xác định doanh nghiệp công nghệ chiến lược không chỉ dựa trên quy mô doanh thu.

Theo mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam sẽ hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn với doanh thu từ 1 tỷ USD trở lên, sử dụng ít nhất 5.000 lao động, có tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ trực thuộc, dành tối thiểu 3% doanh thu cho hoạt động R&D và sở hữu ít nhất một bằng sáng chế được cấp bởi các cơ quan sở hữu trí tuệ hàng đầu thế giới như USPTO, EPO, JPO, KIPO hoặc CNIPA.

Những tiêu chí này cho thấy mục tiêu của Chính phủ không phải tạo ra các doanh nghiệp lớn về quy mô doanh thu đơn thuần mà là xây dựng các doanh nghiệp có năng lực sáng tạo công nghệ thực sự.

Đây là khác biệt rất lớn so với giai đoạn trước. Trong nhiều năm, không ít doanh nghiệp công nghệ trong nước tăng trưởng nhanh nhờ cung cấp dịch vụ hoặc phân phối sản phẩm.Tuy nhiên, số doanh nghiệp sở hữu công nghệ lõi, bằng sáng chế quốc tế hoặc sản phẩm có sức ảnh hưởng toàn cầu vẫn còn hạn chế.

Ngoài ra, các doanh nghiệp công nghệ chiến lược được giao vai trò tương tự các doanh nghiệp hạ tầng quốc gia. Theo Đề án, các doanh nghiệp này sẽ tham gia phát triển hạ tầng số quốc gia, triển khai thêm tối thiểu 6 tuyến cáp quang biển mới, trong đó có ít nhất một tuyến do Việt Nam làm chủ đầu tư; phát triển mạng 5G phủ sóng 99% dân số; xây dựng ít nhất 5 trung tâm dữ liệu quy mô lớn đạt chuẩn quốc tế và thúc đẩy hình thành hệ sinh thái dữ liệu số quốc gia.

Điều này phản ánh một thực tế mới của nền kinh tế số: hạ tầng công nghệ đã trở nên quan trọng không kém hạ tầng giao thông hay năng lượng.

Nếu như trước đây tăng trưởng phụ thuộc vào đường cao tốc, cảng biển hay khu công nghiệp thì trong giai đoạn tới, năng lực xử lý dữ liệu, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo và kết nối quốc tế sẽ quyết định sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Việc hình thành các doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư những dự án hàng tỷ USD về trung tâm dữ liệu, AI hay hạ tầng viễn thông vì thế mang ý nghĩa chiến lược quốc gia.

Tham vọng tạo ra "kỳ lân công nghệ" Việt Nam

Cùng với Đề án doanh nghiệp công nghệ chiến lược, Chính phủ cũng đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 5.000 doanh nghiệp công nghệ số có doanh thu từ thị trường quốc tế, xuất khẩu sản phẩm và dịch vụ công nghệ số đạt tối thiểu 55 tỷ USD mỗi năm. Trong đó sẽ có ít nhất 5 doanh nghiệp đạt doanh thu từ thị trường nước ngoài trên 1 tỷ USD và khoảng 60 doanh nghiệp đạt doanh thu quốc tế từ 20 triệu USD trở lên.

Việt Nam từ mục tiêu 10 doanh nghiệp tỷ đô đến khát vọng làm chủ công nghệ - ảnh 2

Nhìn rộng hơn, tầm nhìn đến năm 2045 là hình thành tối thiểu 10 doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có trình độ cạnh tranh ngang tầm các nước tiên tiến trên thế giới.

Mục tiêu này cho thấy Việt Nam không chỉ muốn phát triển các doanh nghiệp phục vụ thị trường trong nước mà đang hướng tới xây dựng những thương hiệu công nghệ toàn cầu.

Nếu như giai đoạn trước, câu chuyện thành công của nền kinh tế gắn với các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may, điện tử hoặc sản xuất công nghiệp thì trong giai đoạn tới, những doanh nghiệp AI, dữ liệu lớn, an ninh mạng, bán dẫn và nền tảng số có thể trở thành những biểu tượng tăng trưởng mới.

Dù vậy, mục tiêu xây dựng 10 doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô tỷ USD cũng đặt ra không ít thách thức.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy việc hình thành các tập đoàn công nghệ lớn không chỉ cần nguồn lực tài chính mà còn đòi hỏi hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mạnh, nguồn nhân lực chất lượng cao và khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp công nghệ Việt Nam vẫn đang ở phân khúc dịch vụ, gia công phần mềm hoặc tích hợp giải pháp.Số lượng doanh nghiệp làm chủ công nghệ nền tảng, chip bán dẫn, AI lõi hay hệ điều hành còn tương đối ít.

Bên cạnh đó, yêu cầu doanh nghiệp phải sở hữu bằng sáng chế quốc tế và duy trì tỷ lệ đầu tư R&D từ 3% doanh thu trở lên là mục tiêu không dễ đạt được trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp vẫn ưu tiên tăng trưởng doanh thu ngắn hạn hơn là đầu tư nghiên cứu dài hạn.

Nhìn tổng thể, Đề án hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược là một mắt xích quan trọng trong chiến lược đưa công nghiệp công nghệ số trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Nếu thành công, Việt Nam sẽ không chỉ là trung tâm sản xuất của khu vực mà còn có cơ hội trở thành trung tâm sáng tạo công nghệ mới của Đông Nam Á. Khi đó, giá trị gia tăng của nền kinh tế sẽ không còn đến chủ yếu từ lao động và vốn đầu tư, mà đến từ tri thức, sáng tạo và sở hữu công nghệ.