Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2016-2025 tại Hà Nội.

Tại hội nghị, các đại biểu đánh giá sau gần một thập kỷ triển khai, chương trình đã tạo dấu ấn trong việc đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn sản xuất, trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại nhiều địa phương, nhất là những khu vực còn nhiều khó khăn.

Theo báo cáo tổng kết, trong giai đoạn 2016-2025, chương trình đã triển khai 551 dự án trên phạm vi cả nước, xây dựng 1.426 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ. Các mô hình không chỉ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn hỗ trợ người dân cải thiện thu nhập, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị và từng bước hình thành nền tảng phát triển bền vững tại địa phương.

Quang cảnh hội nghị. Ảnh: VGP
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: VGP

Trong nhiều năm qua, khoảng cách về trình độ sản xuất giữa khu vực đô thị và vùng nông thôn, miền núi luôn là một trong những rào cản đối với mục tiêu phát triển bền vững.

Thực tế cho thấy, nhiều địa phương sở hữu tiềm năng lớn về nông nghiệp, dược liệu hay đặc sản bản địa nhưng vẫn gặp khó khăn do thiếu công nghệ, thiếu quy trình sản xuất hiện đại và hạn chế trong khâu chế biến và bảo quản.

Để giải quyết bài toán này, Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai Chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, miền núi giai đoạn 2016-2025.

Sau gần 10 năm thực hiện, chương trình đã trở thành một trong những hoạt động chuyển giao công nghệ quy mô lớn nhất dành cho khu vực nông thôn.

Theo kết quả tổng kết, chương trình đã triển khai 551 dự án tại toàn bộ 63 tỉnh, thành phố, đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật trực tiếp vào sản xuất ở nhiều địa bàn còn nhiều khó khăn.

Thông qua các dự án, hơn 1.400 mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ đã được xây dựng, từ mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, bảo quản sau thu hoạch đến phát triển cây dược liệu, chăn nuôi, thủy sản và các sản phẩm đặc sản địa phương.

Đáng chú ý, chương trình đã giúp các địa phương tiếp nhận và làm chủ gần 3.000 quy trình công nghệ, tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân từng bước làm chủ kỹ thuật thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào hỗ trợ từ bên ngoài.

Song song đó, hơn 96.000 lượt cán bộ kỹ thuật, nông dân và người dân đã được đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao năng lực tiếp nhận và vận hành công nghệ mới.

Những kết quả này cho thấy trọng tâm của chương trình không chỉ dừng ở việc chuyển giao thiết bị hay quy trình kỹ thuật mà còn hướng đến xây dựng năng lực nội sinh cho địa phương, giúp các mô hình có thể tiếp tục phát triển sau khi nhiệm vụ khoa học kết thúc.

Mô hình trạm quan trắc thời tiết thông minh metos phục vụ việc chăm sóc cây chè ở Thái Nguyên. Ảnh: Báo Nhân Dân.
Mô hình trạm quan trắc thời tiết thông minh metos phục vụ việc chăm sóc cây chè ở Thái Nguyên. Ảnh: Báo Nhân Dân.

Hiệu quả của chương trình không chỉ được đo bằng số lượng dự án hay mô hình triển khai mà còn thể hiện ở tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế địa phương.

Tại nhiều tỉnh miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc ứng dụng khoa học công nghệ đã giúp nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, giảm chi phí sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị hàng hóa.

Thông qua các mô hình chuyển giao công nghệ, nhiều địa phương đã từng bước hình thành vùng nguyên liệu tập trung, phát triển các sản phẩm đặc sản theo chuỗi giá trị, đồng thời mở rộng liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và các nhà khoa học.

Đây cũng là nền tảng để nhiều sản phẩm địa phương đạt tiêu chuẩn OCOP, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao thu nhập cho người dân.

Thậm chí, nhiều mô hình sau khi kết thúc nhiệm vụ vẫn tiếp tục được doanh nghiệp và địa phương đầu tư mở rộng, cho thấy khả năng nhân rộng và tính bền vững của các giải pháp khoa học công nghệ.

Bên cạnh việc tạo việc làm và nâng cao sinh kế, chương trình còn góp phần khai thác hiệu quả lợi thế tài nguyên bản địa, bảo tồn các tri thức truyền thống gắn với phát triển kinh tế và hỗ trợ mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế, Bộ Khoa học và Công nghệ định hướng chương trình giai đoạn tiếp theo sẽ tập trung vào các lĩnh vực như chuyển đổi số trong nông nghiệp, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.