Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Luật Phát triển đô thị (trước đây là Luật Đô thị đặc biệt), trong đó đề xuất xây dựng mô hình khu kinh tế đặc biệt với các cơ chế vượt trội nhằm hình thành những cực tăng trưởng mới, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao.

Tại Đông Nam Á, Singapore là một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng cũng là hình mẫu đi đầu và thành công bậc nhất trong xây dựng đặc khu kinh tế.
Tại Đông Nam Á, Singapore là một quốc gia tuy nhỏ bé nhưng cũng là hình mẫu đi đầu và thành công bậc nhất trong xây dựng đặc khu kinh tế.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 7.000 SEZs, hay còn gọi là đặc khu kinh tế hoặc khu kinh tế đặc biệt tại hơn 140 quốc gia. Đây có thể được xem là một mô hình khu kinh tế đặc thù, đóng vai trò là “phòng thí nghiệm chính sách” để các quốc gia thử nghiệm thể chế đột phá, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, có sức cạnh tranh quốc tế.

Còn tại Việt Nam, các khái niệm “đặc khu kinh tế” hay “khu kinh tế đặc biệt” chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. 

Trên cả nước hiện có 46 khu kinh tế được thành lập, trong đó có 20 khu kinh tế ven biển được thành lập với tổng diện tích khoảng 900.000 ha. Nhiều khu kinh tế có cảng biển loại I, cảng biển đặc biệt như Nghi Sơn, Dung Quất, Vân Phong, Vũng Áng... và sân bay quốc tế 4E gồm Vân Đồn, Chu Lai, Phú Quốc. 

Tuy nhiên, nhiều khu kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Diện tích cho thuê trong các khu kinh tế hiện nay còn thấp so với quỹ đất lớn; hạ tầng chưa hoàn thiện đồng bộ; tỷ lệ lấp đầy chưa cao. Vì vậy cần xây dựng khu kinh tế đặc biệt với các cơ chế vượt trội mới nhằm tối ưu hóa các nguồn lực.

Khu kinh tế đặc biệt có vị trí chiến lược được tổ chức theo mô hình đặc thù và áp dụng các cơ chế, chính sách vượt trội để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và cả nước được Chính phủ quyết định thành lập sau khi có ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Một góc của Đặc khu Phú Quốc.
Một góc của Đặc khu Phú Quốc.

Về cơ chế công nhận khu kinh tế đặc biệt, Bộ Tài chính đưa ra hai phương án. Phương án thứ nhất quy định khu kinh tế ven biển đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập; phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước; có quy mô dân số từ 50.000 người trở lên; là khu vực có không gian tương đối độc lập, dễ kiểm soát với quy mô diện tích từ 500 km2 trở lên; có cảng hàng không quốc tế hoặc cảng biển loại I trở lên; được cấp có thẩm quyền xác định là địa bàn có vị trí chiến lược được phát triển thành cực tăng trưởng. Phương án thứ hai giao Chính phủ quy định chi tiết các tiêu chí để tăng tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện phát triển trong từng giai đoạn.

Về tổ chức bộ máy, khu kinh tế đặc biệt sẽ có cơ quan hành chính do cấp tỉnh thành lập. Số lượng Phó Chủ tịch UBND có thể nhiều hơn quy định hiện hành. Chủ tịch UBND khu kinh tế đặc biệt được quyết định việc quản lý, sử dụng công chức, viên chức và người lao động trên địa bàn. Việc kiểm tra, giám sát hải quan tại khu kinh tế đặc biệt do một đơn vị hải quan đảm nhiệm; trường hợp cần thiết, Cục Hải quan sẽ thành lập đơn vị mới để thực hiện nhiệm vụ.

Dự thảo cũng xác định khu kinh tế đặc biệt sẽ được áp dụng hệ thống cơ chế, chính sách vượt trội so với các khu kinh tế hiện hành. Các chính sách tập trung vào phân cấp, phân quyền mạnh hơn cho địa phương; cải cách thủ tục hành chính; cơ chế huy động nguồn lực đầu tư; phát triển khu phi thuế quan; chính sách đất đai, quy hoạch, xây dựng và quản lý hiện đại nhằm nâng cao sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư quốc tế.

Về định hướng phát triển, khu kinh tế đặc biệt sẽ ưu tiên thu hút các ngành có giá trị gia tăng cao như công nghệ cao, trung tâm tài chính quốc tế, logistics, kinh tế số, trung tâm dữ liệu, nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới sáng tạo, công nghiệp bán dẫn và các ngành dịch vụ hiện đại. Từ đó tạo ra những trung tâm tăng trưởng mới có khả năng cạnh tranh với các mô hình thành công trong khu vực.

Theo dự thảo, Luật Phát triển đô thị gồm 68 điều, trong đó Chương III quy định riêng về cơ chế, chính sách phát triển khu kinh tế đặc biệt. Việc xây dựng khung pháp lý riêng được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng để Việt Nam triển khai mô hình khu kinh tế đặc biệt theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính cạnh tranh quốc tế, qua đó mở ra không gian phát triển mới trong giai đoạn tới.