Đơn vị thi công đang thi công tại tuyến quốc lộ 2 đoạn từ cầu Kiệu xã Vĩnh An đi qua Tề Lỗ, Hội Thịnh (Phú Thọ)
Đơn vị thi công đang thi công tại tuyến quốc lộ 2 đoạn từ cầu Kiệu xã Vĩnh An đi qua Tề Lỗ, Hội Thịnh (Phú Thọ)

Dự án thực hiện theo Quyết định đầu tư số 1331/QĐ-BGTVT ngày 18/10/2023 ngày của Bộ Giao thông Vận tải (nay là Bộ Xây dựng) được điều chỉnh tại Quyết định số 1875/QĐ-BXD ngày 28/10/2025.

Với quy mô đầu tư khoảng 11,06km; thiết kế 04 và 06 làn xe, nền đường rộng 18m và 25-26m; Tổng mức đầu tư hơn 1200 tỷ đồng; trong đó: Ngân sách Trung ương: 799,74 tỷ đồng; Ngân sách tỉnh: 458,44 tỷ đồng. Thời gian thực hiện dự án: Cơ bản hoàn thành năm 2026, đưa vào khai thác sử dụng năm 2027. Chủ đầu tư dự án là Ban QLDA Hàng hải và Đường thủy.

Đến nay công ông tác bồi thường, giải phóng mặt bằng được tách thành tiểu dự án do địa phương tổ chức thực hiện. UBND tỉnh đã phê duyệt các tiểu dự án giải phóng mặt bằng tại Quyết định số 55/QĐ-UBND ngày 15/01/2025 và giao UBND các huyện làm chủ đầu tư thực hiện.

Quốc lộ 2 là tuyến đường huyết mạch đặc biệt quan trọng kết nối liên vùng các tỉnh miền núi phía Bắc và Thủ đô Hà Nội
Quốc lộ 2 là tuyến đường huyết mạch đặc biệt quan trọng kết nối liên vùng các tỉnh miền núi phía Bắc và Thủ đô Hà Nội

Sau khi thực hiện sắp xếp tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, UBND tỉnh Phú Thọ có Văn bản số 3934/UBND-CN2 ngày 08/9/2025 giao Ban QLDA khu vực Vĩnh Phúc làm Chủ đầu tư tiểu dự án giải phóng mặt bằng; giao UBND các xã Hội Thịnh, Tề Lỗ, Vĩnh An, Vĩnh Hưng và Vĩnh Thành tổ chức thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn.

Dự án có tổng diện tích chiếm dụng khoảng 44,5ha, trong đó diện tích đất giao thông hiện hữu không phải bồi thường giải phóng mặt bằng khoảng 26,02ha; diện tích bồi thường, giải phóng mặt bằng khoảng 18,5ha. Đến nay các xã Hội Thịnh, Tề Lỗ, Vĩnh Thành đã hoàn thành 100% công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư thi công.

Tuyến quốc lộ 2 qua xã Vĩnh Hưng (Phú Thọ)
Tuyến quốc lộ 2 qua xã Vĩnh Hưng (Phú Thọ)

Tại xã Vĩnh Hưng với nhiệm vụ giải phóng mặt bằng 22,05ha, đến nay đã hoàn thành 20,75ha, đạt 94%. Dự kiến trước ngày 15/7/2026 hoàn thành với diện tích còn lại 1,3ha. Vĩnh Hưng là địa phương có diện tích bồi thường lớn nhất trong các địa phương thực hiện giải phóng mặt bằng dự án.

Trong quá trình thực hiện một số vướng mắc phát sinh như công tác đo đạc lập bản đồ thu hồi đất, bản đồ địa chính và thanh quyết toán chi phí đo đạc phục vụ công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; khó khăn trong bồi thường, di chuyển các công trình hạ tầng kỹ thuật của các đơn vị như điện lực Phú Thọ, Viễn thông Phú Thọ, Trung tâm hạ tầng mạng Miền Bắc và Viettel Phú Thọ, nhà máy nước, cáp quang của các đơn vị trong phạm vi dự án.

Bên cạnh đó, việc thực hiện hạ tầng các khu tái định cư cũng đang trong diện chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng hiện nay chủ đầu tư mới đang chuẩn bị các thủ tục đầu tư, sau đó lựa chọn nhà thầu và tổ chức thi công xây dựng trong khi khối lượng công việc lớn. Theo như chỉ đạo của UBND tỉnh Phú Thọ phải hoàn thành giải phóng mặt bằng khu tái định cư xong trước ngày 30/6/2026 và xây dựng hạ tầng xong trước ngày 30/7/2026.

Khó khăn khác là việc nhiều hộ dân tạo lập tài sản trên đất nông nghiệp trái phép trong thời gian dài, tuy nhiên  hồ sơ xử lý vi phạm của các xã cũ còn thiếu, chưa đầy đủ nên gặp khó khăn trong việc xác định cơ chế hỗ trợ theo quy định; việc mua bán, chuyển nhượng đất nông nghiệp diễn ra từ nhiều năm trước, qua nhiều chủ sử dụng khác nhau, hồ sơ là giấy viết tay, không đầy đủ pháp lý gây khó khăn cho việc dà soát chủ sử dụng đất, kiểm kê đất. Bên cạnh đó, các hộ gia đình có đất ở trong diện giải phóng mặt bằng hồ sơ chưa đầy đủ, rõ ràng về diện tích do mua bán qua nhiều chủ sử dụng gây khó khăn cho việc xác định diện tích và đối tượng bồi thường, hỗ trợ.

Hiện thay theo ghi nhận, nhiều vị trí thuộc dự án đang được thi công rầm rộ, các tuyến có công trình vi phạm trên đất nông nghiệp cũng đã được tháo dỡ, trả lại mặt bằng cho dự án. Dự án khi hoàn thiện và đưa vào khai thác, Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên – Việt Trì không chỉ giải quyết "điểm nghẽn" giao thông tồn tại nhiều năm mà còn trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển đô thị và tăng cường liên kết giữa Vùng Thủ đô với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc. 

Dự án Cải tạo, mở rộng Quốc lộ 2 đoạn Vĩnh Yên - Việt Trì sẽ góp phần:

1. Giảm ùn tắc, rút ngắn thời gian di chuyển:

  • Giải quyết tình trạng mặt đường hẹp, xuống cấp và thường xuyên ùn tắc.
  • Thời gian đi lại giữa Vĩnh Yên và Việt Trì sẽ được rút ngắn, lưu thông ổn định hơn, đặc biệt vào giờ cao điểm và dịp lễ, Tết.
  • Tăng năng lực giao thông cho tuyến Quốc lộ 2 – trục giao thông huyết mạch kết nối Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc.

2. Nâng cao an toàn giao thông

  • Mặt đường rộng hơn, tổ chức giao thông đồng bộ, giảm các điểm xung đột.
  • Hạn chế tai nạn do vượt xe, ùn tắc và hư hỏng mặt đường.
  • Cải thiện điều kiện lưu thông cho cả xe tải nặng, xe khách và phương tiện cá nhân.

3. Thúc đẩy phát triển kinh tế vùng

  • Giảm chi phí logistics và thời gian vận chuyển hàng hóa.
  • Tăng khả năng kết nối giữa các khu công nghiệp của Phú Thọ với cao tốc Nội Bài – Lào Cai, sân bay Nội Bài và Hà Nội.
  • Tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp và dịch vụ logistics.

4. Tăng cường liên kết vùng

  • Hoàn thiện hành lang giao thông từ Hà Nội – Phú Thọ –  Lào Cai.
  • Góp phần hoàn chỉnh mạng lưới giao thông vùng Trung du và miền núi phía Bắc theo quy hoạch.
  • Tăng khả năng kết nối với các tuyến cao tốc và quốc lộ quan trọng khác.

5. Thúc đẩy phát triển đô thị

  • Mở ra dư địa phát triển các khu đô thị, khu dân cư, trung tâm thương mại và dịch vụ dọc hành lang Quốc lộ 2.
  • Gia tăng giá trị quỹ đất và tạo động lực mở rộng không gian đô thị tỉnh Phú Thọ.

6. Phát triển du lịch

  • Thuận lợi hơn cho du khách đến các điểm du lịch như: Tây Thiên, Tam Đảo, Đền Hùng, Vườn quốc gia Xuân Sơn và các điểm du lịch của Phú Thọ.
  • Hình thành các tuyến du lịch liên tỉnh thuận tiện hơn.

7. Bảo đảm quốc phòng, an ninh

  • Nâng cao năng lực cơ động của lực lượng chức năng.
  • Tăng khả năng ứng phó khi xảy ra thiên tai, cứu hộ cứu nạn và các tình huống khẩn cấp trong khu vực.