Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026 – 2030 cần đạt khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân khoảng 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Vừa qua, tại Hà Nội, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn". Hội thảo diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và đang tái cơ cấu toàn diện và là diễn đàn để các chuyên gia cùng trao đổi những nút thắt cần tháo gỡ và các giải pháp để khơi thông nguồn vốn cho tăng trưởng.
Cấu trúc cung ứng vốn vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng
Phát biểu khai mạc Hội thảo ông Phạm Đức Sơn, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết, cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam ở mức rất cao (khoảng 146% tới cuối năm 2025), thuộc nhóm cao nhất đối với các nước có mức thu nhập trung bình thấp.
Điều này đặt ra không ít thách thức trong công tác điều hành, nhất là đối với vấn đề cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Tín dụng trung – dài hạn hiện vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro kỳ hạn và áp lực thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.
Trong khi đó, các kênh dẫn vốn khác vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt trên 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ, tương đương khoảng 10% GDP… Những con số còn khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Tại Nghị quyết 168 ngày 27/6/2026 Chính phủ yêu cầu tiếp tục triển khai hiệu quả giải pháp phát triển thị trường chứng khoán; trình sửa đổi Luật Chứng khoán tại Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2026, và các quy định có liên quan để nâng cao năng lực thị trường; thiết kế các sản phẩm tài chính mới, thu hút dòng vốn của các nhà đầu tư quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Gần nhất, tại Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp với chủ đề "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" diễn ra ngày18/7, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu phát triển lành mạnh thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp; ưu tiên phát triển thị trường vốn trong nước làm kênh huy động vốn dài hạn. Đặc biệt, giao Bộ Tài chính khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam trong tháng 7/2026.
“Trên cơ sở đó, Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức Hội thảo “Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn” nhằm tạo diễn đàn đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư và cộng đồng doanh nghiệp; qua đó góp ý, đề xuất giải pháp phát triển thị trường vốn đồng bộ và bền vững, thúc đẩy hình thành mô hình dẫn vốn cân bằng hơn giữa hệ thống ngân hàng và thị trường vốn, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng cao của nền kinh tế trong giai đoạn mới”, Tổng biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho biết.
Giải pháp nâng cao năng lực tài trợ cho tăng trưởng
Tại Hội thảo, các chuyên gia nhận định, nghiên cứu cho thấy Việt Nam không thiếu nguồn lực và cũng không thiếu công cụ chính sách để hỗ trợ tăng trưởng. Điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khả năng chuyển hóa các nguồn lực hiện có thành năng lực tài trợ cho đầu tư trung và dài hạn trong khoảng thời gian ngắn.
Trong bối cảnh các định chế tài chính dài hạn thường cần nhiều năm để hình thành, ưu tiên chính sách không nên là bổ sung thêm công cụ mới mà là tháo gỡ đúng các ràng buộc đang cản trở dòng vốn và tập trung vào những giải pháp có thể phát huy hiệu quả trong giai đoạn 2026–2030.
Trên cơ sở đó, nhóm chuyên gia của Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, Học viện Ngân hàng đề xuất ba nguyên tắc: Lựa chọn công cụ theo điểm nghẽn cần xử lý; phân loại công cụ theo thời gian phát huy hiệu quả; và gắn mỗi giải pháp với trách nhiệm thực thi rõ ràng.
Thứ nhất, cần ưu tiên tháo gỡ đúng ràng buộc đang cản trở dòng vốn, gồm thiếu kênh huy động, thiếu dự án đạt chuẩn hoặc thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro, thay vì chỉ dựa vào quy mô lý thuyết của từng nguồn lực. PPP chủ yếu vướng cơ chế chia sẻ rủi ro; trái phiếu chính quyền địa phương phụ thuộc chất lượng dự án và kênh phát hành; vốn đầu tư gián tiếp phụ thuộc chất lượng hàng hóa và niềm tin thị trường; còn quỹ hưu trí, kiều hối và vàng trước hết cần kênh huy động phù hợp. Đồng thời, cần đánh giá sát quy mô vốn thực sự có thể huy động, tránh coi toàn bộ tiền gửi, vàng, kiều hối hay tài sản doanh nghiệp nhà nước là nguồn vốn sẵn sàng đưa vào đầu tư.
Thứ hai, lựa chọn công cụ theo thời gian phát huy tác dụng. Trong khi nhu cầu vốn tập trung vào giai đoạn 2026–2030, nhiều định chế tài chính dài hạn cần 10–20 năm để tích lũy tài sản và tạo dựng niềm tin. Vì vậy, cần phân biệt giữa các công cụ có thể tạo kết quả trước năm 2030, các công cụ cần chuẩn bị từ bây giờ nhưng chỉ phát huy về dài hạn và các công cụ chưa nên coi là nguồn vốn bổ sung trong giai đoạn này.
Thứ ba, gắn mỗi giải pháp với trách nhiệm thực thi và giới hạn an toàn. Một chính sách chỉ khả thi khi xác định rõ cơ quan chủ trì, sản phẩm đầu ra, thời hạn, chỉ tiêu theo dõi và trách nhiệm cuối cùng. Với các công cụ có thể phát sinh nghĩa vụ tài khóa hoặc rủi ro hệ thống như PPP hay bảo lãnh, việc triển khai phải đi kèm công khai nghĩa vụ dự phòng, giới hạn định lượng và giám sát độc lập để tránh chuyển rủi ro sang khu vực công hoặc hệ thống ngân hàng.
Theo các chuyên gia của của Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng, ba nguyên tắc này cần được thực hiện trong một cơ chế "áp lực thực thi có kiểm soát", tức tạo động lực cải cách đủ mạnh nhưng vẫn bảo đảm ổn định, thông qua mục tiêu định lượng, thời hạn rõ ràng, phân công trách nhiệm và giám sát công khai.
Kinh nghiệm cải cách thị trường vàng và thành lập Trung tâm Tài chính quốc tế giai đoạn 2025–2026 cho thấy chỉ đạo quyết liệt có thể rút ngắn thời gian ban hành chính sách, nhưng không đồng nghĩa quy mô vốn và niềm tin thị trường sẽ hình thành ngay. Vì vậy, ưu tiên thực thi cần tập trung vào các ràng buộc có thể mở rộng năng lực tài trợ trong giai đoạn 2026–2030, đồng thời bảo đảm an toàn và trách nhiệm giải trình.