Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 107/2023/QH15 về áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu. Đáng chú ý, đề xuất không áp dụng thuế TNDN bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT) đối với các dự án BOT điện có bảo lãnh của Chính phủ nhằm thực hiện các cam kết đã ký với nhà đầu tư, đồng thời tránh nguy cơ làm tăng giá điện.
Theo dự thảo, Bộ Tài chính đề xuất bổ sung khoản 9a Điều 4 của Nghị quyết số 107/2023/QH15, theo đó số thuế TNDN bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn được xác định bằng 0 đồng trong năm tài chính đối với doanh nghiệp thực hiện dự án nhà máy điện theo hình thức Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao (BOT) có bảo lãnh Chính phủ và hợp đồng BOT có cam kết về thuế, được ký trước ngày 1/1/2024 - thời điểm Nghị quyết 107 có hiệu lực.
Đối với trường hợp doanh nghiệp BOT điện là đơn vị hợp thành của tập đoàn đa quốc gia có nhiều đơn vị tại Việt Nam, doanh nghiệp vẫn thực hiện việc phân bổ thuế theo quy định nhưng số thuế phân bổ được xác định bằng 0 đồng. Nếu doanh nghiệp BOT là đơn vị hợp thành hoặc liên doanh duy nhất của tập đoàn tại Việt Nam, doanh nghiệp vẫn kê khai theo quy định nhưng số thuế phải nộp cũng bằng 0 đồng.
Theo Bộ Tài chính, quy định này nhằm thiết lập cơ chế tương đương với việc miễn áp dụng QDMTT đối với các doanh nghiệp thực hiện dự án BOT điện có bảo lãnh Chính phủ (GGU), qua đó xử lý các cam kết về thuế đã được quy định trong các hợp đồng BOT được ký trước khi Việt Nam triển khai thuế tối thiểu toàn cầu.
Việt Nam chính thức áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu từ năm 2024 đối với các tập đoàn đa quốc gia có doanh thu hợp nhất từ 750 triệu euro trở lên, với mức thuế tối thiểu 15%.
Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2005-2015, Việt Nam đã thu hút nhiều dự án BOT điện quy mô lớn của nhà đầu tư nước ngoài nhằm bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh nguồn cung điện còn hạn chế. Các dự án như Mông Dương 2, Vĩnh Tân 1, Nghi Sơn 2, Vũng Áng 2... đều được triển khai trên cơ sở chuỗi cam kết pháp lý gồm hợp đồng BOT, hợp đồng mua bán điện (PPA) và thỏa thuận bảo lãnh, cam kết của Chính phủ (GGU).
Các hợp đồng này đều có điều khoản bảo đảm ổn định chính sách, trong đó bao gồm chính sách thuế. Nhưng khi ký kết các hợp đồng BOT, các bên chưa dự liệu sự xuất hiện của cơ chế thuế tối thiểu toàn cầu.
Theo đánh giá của Bộ Tài chính, việc phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung sẽ làm thay đổi các giả định tài chính ban đầu, giảm dòng tiền của dự án, ảnh hưởng đến tỷ lệ hoàn vốn và khả năng trả nợ. Đồng thời, điều này có thể kích hoạt các điều khoản trong GGU, buộc Chính phủ phải có cơ chế bù đắp cho nhà đầu tư.
Trong trường hợp phải thực hiện cam kết, Nhà nước có thể phải điều chỉnh giá điện hoặc kéo dài thời gian vận hành dự án. Tuy nhiên, cả hai phương án đều có thể tạo ra tác động tiêu cực. Việc tăng giá điện sẽ làm gia tăng chi phí sản xuất, ảnh hưởng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát và đời sống người dân, trong khi kéo dài thời gian vận hành có thể tác động đến Quy hoạch điện VIII, tiến trình chuyển dịch năng lượng và mục tiêu giảm phát thải.
Bộ Tài chính cho rằng việc không áp dụng QDMTT đối với các dự án BOT điện có bảo lãnh Chính phủ vừa phù hợp với hướng dẫn của OECD, vừa giúp Việt Nam thực hiện đúng các cam kết với nhà đầu tư, hạn chế nguy cơ tranh chấp quốc tế, đồng thời tránh gây áp lực tăng giá điện.
Theo rà soát của Bộ Tài chính, hiện có 7 dự án BOT điện thuộc diện chịu tác động của chính sách thuế tối thiểu toàn cầu. Trong đó, 6 dự án đã cung cấp số liệu đánh giá, với tổng số thuế TNDN bổ sung dự kiến khoảng 425,83 triệu USD, tương đương gần 11.000 tỷ đồng.
Dự án có số thuế dự kiến lớn nhất là Nghi Sơn 2 với khoảng 189,5 triệu USD (đến năm 2047), tiếp đến là Vĩnh Tân 1 khoảng 65 triệu USD, Vũng Áng 2 khoảng 52,9 triệu USD, Mông Dương 2 khoảng 14,4 triệu USD và Vân Phong 1 khoảng 10 triệu USD. Riêng dự án Duyên Hải 2 chưa có đủ số liệu để đánh giá. Đặc biệt, các dự án BOT điện này đều có quy mô đầu tư lớn, trong đó khoảng 75-80% tổng vốn được tài trợ từ các tổ chức tín dụng quốc tế.
Báo cáo tổng kết thi hành Nghị quyết 107/2023/QH15 của Bộ Tài chính cho thấy, sau hơn hai năm triển khai, chính sách thuế tối thiểu toàn cầu đã từng bước đi vào thực tiễn, giúp Việt Nam bảo đảm quyền đánh thuế đối với các tập đoàn đa quốc gia và tăng thu ngân sách.
Đến ngày 10/7/2026, cả nước có 1.654 tập đoàn kê khai thuế TNDN bổ sung tối thiểu nội địa đạt chuẩn (QDMTT) và 23 tập đoàn kê khai theo quy định về tổng hợp thu nhập chịu thuế tối thiểu (IIR). Tổng số thuế bổ sung đã nộp ngân sách đạt 15.973 tỷ đồng.
Đối với nhóm doanh nghiệp BOT điện, đã có 5 doanh nghiệp hoàn thành kê khai thuế năm tài chính 2024. Trong đó, 2 doanh nghiệp phát sinh số thuế phải nộp với tổng số gần 96,8 tỷ đồng; 3 doanh nghiệp còn lại không phát sinh nghĩa vụ thuế bổ sung do được áp dụng cơ chế giảm trừ theo quy định.
Theo Bộ Tài chính, mặc dù Nghị quyết 107/2023/QH15 đã cơ bản đạt được mục tiêu đề ra, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số vướng mắc đối với các trường hợp đặc thù, nhất là các dự án BOT điện có bảo lãnh Chính phủ.
Ngoài đề xuất miễn áp dụng QDMTT đối với nhóm dự án này, Bộ Tài chính cũng đề xuất chuẩn hóa khái niệm "công ty mẹ tối cao" theo quy định mẫu của OECD nhằm bảo đảm thống nhất hệ thống pháp luật, tạo thuận lợi trong quản lý thuế và trao đổi thông tin quốc tế. Đồng thời, dự thảo bổ sung cơ chế cho phép Chính phủ ban hành nghị định để xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai chính sách và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.