Loạt ngân hàng công bố giảm lãi suất cho vay

Ảnh minh hoạ.
Ảnh minh hoạ.

KienlongBank triển khai chương trình “Đồng hành vốn vay - Chung tay gắn kết”, tập trung nguồn lực tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) và các nhu cầu phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Điểm đáng chú ý là mức giảm lãi suất lên tới 2,5%/năm, được áp dụng linh hoạt theo từng nhóm khách hàng và kỳ hạn khoản vay. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng tạo thêm dư địa để doanh nghiệp cân đối chi phí tài chính, chủ động dòng tiền và phân bổ nguồn lực cho vốn lưu động, sản xuất cũng như các kế hoạch mở rộng kinh doanh.

Ngân hàng SACOMBANK đã công bố gói tín dụng ưu đãi dành cho khách hàng xuất nhập khẩu.

Theo đó, gần 100.000 tỷ đồng phân khúc nhóm khách hàng này tại SACOMBANK sẽ được giảm lãi suất ở mức 2%, từ ngày 13/08/2026 đến hết 31/12/2026, áp dụng cho cả khách hàng mới và khách hàng hiện hữu.

Với chính sách này, SACOMBANK cho biết, ngân hàng đã chủ động giảm mạnh biên lợi nhuận từ khoảng 2,79% xuống còn 0,79%, qua đó thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu và tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh chương trình dành cho khách hàng xuất nhập khẩu, SACOMBANK đang triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho các lĩnh vực ưu tiên, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với tổng quy mô từ 10.000 - 15.000 tỷ đồng. Lãi suất dự kiến ở mức 8,5-9%/năm, được thiết kế theo từng phân khúc khách hàng, kỳ hạn và điều kiện thị trường phù hợp.

Nam A Bank cũng điều chỉnh giảm lãi suất đối với cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Với các khoản vay phục vụ sản xuất kinh doanh và nông nghiệp của khách hàng cá nhân, mức giảm từ 0,5-0,7%/năm. Các khoản vay mua nhà hoặc tiêu dùng phục vụ đời sống được giảm từ 0,1-0,3%/năm. Đối với khách hàng doanh nghiệp, ngân hàng giảm biểu lãi suất niêm yết tối đa 0,5%/năm. Không dừng lại ở việc điều chỉnh mặt bằng lãi suất chung, Nam A Bank còn triển khai các chương trình ưu đãi chuyên biệt với tổng hạn mức lên tới 25.000 tỷ đồng, mức lãi suất thấp hơn từ 1-1,8%/năm so với biểu niêm yết.

Trong đó, lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được dành gói tín dụng quy mô lớn nhất, 15.000 tỷ đồng; lĩnh vực hạ tầng và công nghệ số 4.000 tỷ đồng; doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản và trái cây 3.600 tỷ đồng; doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh tại các khu công nghiệp 1.400 tỷ đồng và khối doanh nghiệp SME/MSME 1.000 tỷ đồng. Để tạo dư địa giảm lãi suất đầu ra, Nam A Bank đồng thời giảm lãi suất huy động tới 0,3%/năm.

BVBank cũng triển khai gói vay ưu đãi tổng hạn mức 2.500 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp SME, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mặt bằng chung. Sau khi giảm, lãi suất cho vay từ 9,7%/năm, hướng tới hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh giảm chi phí vận hành.

Trước đó, Agribank đã đưa ra chương trình tín dụng ưu đãi lên tới 70.000 tỷ đồng, triển khai từ tháng 8/2026 đến hết năm 2028. Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và cá nhân thuộc các lĩnh vực ưu tiên có thể được hưởng lãi suất thấp hơn 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân thông thường.

Vietcombank triển khai trên toàn hệ thống "Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa", với quy mô doanh số cho vay 50.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của Vietcombank trong từng thời kỳ, đồng thời có thể được xem xét miễn, giảm một số loại phí dịch vụ theo quy định.

BIDV cũng công bố gói tín dụng 50.000 tỷ đồng đến hết năm 2028, với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn.

Thủ tướng yêu cầu giảm lãi suất cho vay phải thực chất

Thủ tướng Lê Minh Hưng làm việc với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng làm việc với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tín dụng.

Động thái của các ngân hàng diễn ra ngay trước và sau cuộc làm việc của Thủ tướng với Ngân hàng Nhà nước (NHNN)  và các tổ chức tín dụng vào ngày 13/8.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nêu rõ, thời gian qua, tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường, tác động rất lớn và nhanh, cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến nền kinh tế nước ta, trong đó có tỷ giá, mặt bằng lãi suất, thanh khoản, huy động vốn và tín dụng cho nền kinh tế. Trong bối cảnh đó, Chính phủ xác định hệ thống tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng là huyết mạch của nền kinh tế, giữ vai trò trọng yếu trong ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) được yêu cầu tập trung khơi thông và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho nền kinh tế; bảo đảm người dân, doanh nghiệp được tiếp cận thuận lợi với tín dụng và các dịch vụ ngân hàng; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực quản trị và sức cạnh tranh của các tổ chức tín dụng.

Một trong những yêu cầu đáng chú ý là tiếp tục duy trì các mức lãi suất điều hành, tăng cường cung ứng thanh khoản cho thị trường, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí thấp. Các ngân hàng cũng được yêu cầu tiếp tục tiết giảm chi phí, ổn định mặt bằng lãi suất và giảm thực chất lãi suất cho vay, qua đó hỗ trợ người dân và doanh nghiệp.

Đối với tín dụng, NHNN được yêu cầu điều hành tăng trưởng tín dụng bám sát mục tiêu năm 2026 nhưng không coi đây là “trần cứng” trong mọi thời điểm. Nguồn vốn cần tiếp tục được tập trung vào sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, hạ tầng thiết yếu, các dự án quan trọng, trọng điểm quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng.

Chỉ đạo này được đưa ra trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế tiếp tục ở mức cao. Theo số liệu của NHNN, đến ngày 31/7, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đã đạt gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025.

Theo NHNN, hiện nay, trong bối cảnh áp lực lạm phát gia tăng, dư địa kiểm soát lạm phát theo mục tiêu không còn nhiều, ngành ngân hàng phải thực hiện nhiều mục tiêu đan xen, có tính chất đánh đổi nhau: Điều hành vừa đáp ứng nhu cầu vốn hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, vừa kiểm soát lạm phát, vừa giảm lãi suất đồng thời ổn định tỷ giá

Đặc biệt là, trong điều kiện nhu cầu sử dụng vốn cao hơn khả năng huy động vốn lớn (chênh lệch tín dụng - huy động VND hiện đang ở mức khoảng 2 triệu tỷ đồng) là tiềm ẩn rủi ro, gây ra các hệ lụy về thanh khoản, lãi suất, đe dọa đến an toàn hoạt động hệ thống.

4 nguyên nhân khiến mặt bằng lãi suất còn nhiều sức ép

Theo NHNN, hiện có 4 nguyên nhân cốt lõi khiến mặt bằng lãi suất chịu sức ép gồm:

Thứ nhất, lãi suất tiền gửi, cho vay đã có xu hướng tăng từ cuối năm 2025 và tiếp tục tăng đáng kể trong 3 tháng đầu năm 2026, từ đó tạo nên mặt bằng lãi suất mới.

Thứ hai là, nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng dự kiến gia tăng trong thời gian tới để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức “hai con số”, trong khi đó tăng trưởng huy động vốn toàn hệ thống TCTD luôn thấp hơn tăng trưởng tín dụng.

Thứ ba là sức ép lạm phát trong nước có xu hướng gia tăng. Và thứ tư, các ngân hàng trung ương trên thế giới đã điều chỉnh tăng lãi suất hoặc tiếp tục duy trì lãi suất ở mức cao.