Tỉnh Lào Cai xây dựng vùng chè tập trung, chất lượng cao
Chè là một trong những ngành hàng có tiềm năng phát triển của Lào Cai, nhất là tại các địa bàn có điều kiện phù hợp về đất đai, khí hậu và truyền thống sản xuất. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường xuất khẩu biến động, lợi thế về vùng nguyên liệu nếu không được chuyển hóa thành sản phẩm đạt chuẩn sẽ khó tạo ra giá trị tương xứng.
Thực tế này được đặt ra trong đề xuất của Hiệp hội Chè Việt Nam gửi UBND tỉnh Lào Cai tháng 6/2026. Hiệp hội nhận định những biến động địa chính trị tại khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu chè sang một số thị trường chủ lực, gây khó khăn cho sản xuất, chế biến và tiêu thụ. Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải có giải pháp căn cơ, lâu dài nhằm ổn định sản xuất và nâng cao giá trị ngành chè.
Việc Lào Cai nghiên cứu xây dựng “Chương trình phát triển vùng chè tập trung an toàn, chất lượng cao” cho thấy một hướng tiếp cận mới: mở rộng diện tích, sản lượng, tập trung nâng chất lượng vùng nguyên liệu, đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe hơn của thị trường quốc tế.
Theo đề xuất, chương trình hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu chè tập trung, đạt tiêu chuẩn an toàn, chất lượng cao; đáp ứng yêu cầu của các thị trường như EU, Nhật Bản, Đài Loan, đồng thời nâng giá trị gia tăng, ổn định đầu ra và thu nhập cho người dân.
Hiện nay, phạm vi vùng chè được đề xuất tập trung tại các xã Bản Lầu, Bản Sen, Thanh Bình, Phong Hải, Phú Nhuận, Bản Phiệt, thuộc địa bàn các huyện Mường Khương và Bảo Thắng trước đây.
Đây là cơ sở quan trọng để tỉnh Lào Cai tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung thay vì phân tán. Khi vùng nguyên liệu được quy hoạch và quản lý thống nhất, các yêu cầu về giống, quy trình chăm sóc, sử dụng vật tư đầu vào, thu hái, sơ chế và truy xuất nguồn gốc sẽ có điều kiện được kiểm soát đồng bộ hơn.
Đặc biệt, theo báo cáo của UBND tỉnh Lào Cai phạm vi rà soát, xây dựng kế hoạch đang được mở rộng tới các xã Mường Khương, Bản Lầu, Cao Sơn, Pha Long, Phong Hải và Tằng Loỏng. Tỉnh Lào Cai đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì đánh giá toàn diện hiện trạng vùng chè, bao gồm quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, năng lực sản xuất - chế biến - tiêu thụ của doanh nghiệp, HTX và khả năng liên kết của người dân.Điều này cho thấy Lào Cai đang đi theo hướng đánh giá thực chất trước khi xây dựng vùng nguyên liệu xuất khẩu, thay vì triển khai chương trình theo cách dàn trải.
“Chuẩn quốc tế” là chìa khóa nâng giá trị chè tỉnh Lào Cai
Muốn bước vào những thị trường có sức mua và giá trị cao, chè Lào Cai phải vượt qua yêu cầu về chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc.
Chương trình được Hiệp hội Chè Việt Nam đề xuất đặt trọng tâm vào việc áp dụng các quy trình như VietGAP, GlobalGAP và sản xuất hữu cơ. Đây là nền tảng để chuẩn hóa vùng nguyên liệu và tạo niềm tin đối với nhà nhập khẩu. UBND tỉnh Lào Cai đã giao ngành nông nghiệp xây dựng kế hoạch quản lý vùng nguyên liệu bảo đảm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật để xuất khẩu chè chất lượng cao sang thị trường châu Âu (EU).
Đây có thể xem là một bước chuyển quan trọng về tư duy sản xuất.Nếu trước đây sản xuất chè chủ yếu hướng tới sản lượng và tiêu thụ theo các thị trường truyền thống, thì yêu cầu mới là phải sản xuất theo tiêu chuẩn của thị trường ngay từ vùng nguyên liệu.
Khi đó, mỗi lô chè không chỉ là sản phẩm nông nghiệp mà phải có thông tin về vùng trồng, quy trình chăm sóc, vật tư sử dụng, thời điểm thu hái, sơ chế và chế biến. Truy xuất nguồn gốc trở thành một phần của giá trị sản phẩm chứ không còn là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần.
Tỉnh Lào Cai đã có sự tham gia liên kết của các doanh nghiệp chè trên địa bàn. Hiệp hội Chè Việt Nam đề xuất huy động các doanh nghiệp như Phong Hải, Á Châu, Thiên Phú... tham gia hướng dẫn kỹ thuật và bao tiêu sản phẩm cho người trồng chè, vùng chè. Đây chính là yếu tố quyết định khả năng biến vùng nguyên liệu thành vùng sản xuất hàng hóa.
UBND tỉnh Lào Cai cũng yêu cầu các địa phương chủ trì tổ chức để doanh nghiệp, HTX ký kết liên kết với người dân, quản lý chặt nguyên liệu đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, các xã phải rà soát vùng sản xuất, đối tượng tham gia và phương án tổ chức sản xuất, liên kết chế biến, tiêu thụ phù hợp thực tế.
Mối quan hệ liên kết cùng có lợi này có thể tạo thành chuỗi liên kết hoàn chỉnh: Người dân sản xuất nguyên liệu → HTX tổ chức vùng trồng → doanh nghiệp hướng dẫn kỹ thuật, thu mua, chế biến → thương hiệu và hệ thống xúc tiến thương mại đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế.
Trong chuỗi đó, người trồng chè không còn đơn thuần bán nguyên liệu mà trở thành một mắt xích được kiểm soát và hưởng lợi từ giá trị gia tăng của toàn chuỗi.
Biến động thị trường xuất khẩu thời gian qua cho thấy một ngành hàng dù có năng lực sản xuất vẫn có thể gặp khó khăn nếu phụ thuộc quá lớn vào một số thị trường.Đây là lý do Hiệp hội Chè Việt Nam đề xuất Lào Cai đa dạng hóa xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống, đồng thời xây dựng và quảng bá thương hiệu chè Lào Cai gắn với truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng.
Với định hướng này, EU, Nhật Bản, Đài Loan và các thị trường có yêu cầu cao có thể trở thành những đích đến quan trọng. Tuy nhiên, thị trường càng cao cấp thì yêu cầu càng khắt khe. Vì vậy, việc mở rộng thị trường phải song hành với nâng cấp toàn bộ chuỗi sản xuất. Không thể chỉ thay đổi bao bì hay tăng cường quảng bá nếu chất lượng vùng nguyên liệu chưa ổn định.
Thị trường quốc tế sẽ là thước đo năng lực tổ chức sản xuất của ngành chè tỉnh Lào Cai
Từ sản phẩm nông nghiệp đến thương hiệu chè Lào Cai.Một lợi thế khác cần được phát huy là xây dựng thương hiệu gắn với địa danh.Hiệp hội Chè Việt Nam đề xuất xây dựng, quảng bá thương hiệu chè Lào Cai gắn với truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn chất lượng.
Với thị trường quốc tế, giá trị của một sản phẩm không chỉ nằm ở nguyên liệu mà còn ở câu chuyện vùng đất, tiêu chuẩn sản xuất, tính ổn định và uy tín thương hiệu. Tỉnh Lào Cai có thể từng bước phát triển hình ảnh chè theo hướng sản phẩm vùng cao an toàn, có nguồn gốc rõ ràng, sản xuất bền vững, qua đó tạo sự khác biệt so với các vùng chè khác.
Nếu làm tốt, thương hiệu chè Lào Cai không chỉ giúp tiêu thụ sản phẩm hiện tại mà còn trở thành tài sản phục vụ xúc tiến thương mại và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào chế biến sâu.
Yêu cầu kiểm soát vật tư đầu vào. Hiệp hội Chè Việt Nam kiến nghị Lào Cai có giải pháp quản lý hữu hiệu vật tư đầu vào cho sản xuất chè, đồng thời hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, hạ tầng vùng nguyên liệu và chứng nhận tiêu chuẩn. Đây là vấn đề then chốt bởi chỉ cần một mắt xích trong vùng nguyên liệu không tuân thủ quy trình, cả chuỗi có thể gặp rủi ro khi xuất khẩu.
Bên cạnh đó là bài toán tổ chức sản xuất. Việc tập hợp người dân vào cùng một quy trình, duy trì kỷ luật sản xuất, ghi chép nhật ký, kiểm soát vật tư và thu hái đúng quy định đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của doanh nghiệp, HTX và chính quyền cơ sở.
Vì vậy, xây dựng vùng chè an toàn không thể chỉ là một dự án nông nghiệp ngắn hạn mà phải là quá trình quản trị vùng nguyên liệu lâu dài.
Điểm đáng chú ý trong cách triển khai của Lào Cai là vai trò của chính quyền đang được đặt ở vị trí kiến tạo và điều phối.UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối kết nối Hiệp hội Chè Việt Nam với các xã vùng chè và các đơn vị liên quan; đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển ngành hàng, xác định mục tiêu, quy mô, nhu cầu kinh phí và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan.
Trong khi đó, Hiệp hội Chè Việt Nam được đề nghị cung cấp thông tin về quy trình kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, hướng dẫn sản xuất theo nhu cầu thị trường, kết nối thị trường tiêu thụ và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy xúc tiến thương mại, quảng bá và phát triển thương hiệu chè Lào Cai.
Cách phân công này tạo thành mô hình phối hợp nhiều bên, trong đó Nhà nước kiến tạo chính sách và hạ tầng; Hiệp hội hỗ trợ tiêu chuẩn, thị trường; doanh nghiệp tổ chức chế biến và tiêu thụ; người dân trực tiếp sản xuất.
Đây chính là mô hình “4 nhà: Nhà nước - Doanh nghiệp - Nông dân - Hiệp hội” mà Hiệp hội Chè Việt Nam đề xuất.