Vừa qua, Bộ Tài chính có công văn số 13362/BTC-CST ngày 25/8/2026 về việc lấy ý kiến các Bộ, ngành, hiệp hội liên quan về dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Tại Điều 29 dự thảo Nghị định có nội dung điều chỉnh giảm mức miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá nhỏ.
Để giúp cộng đồng doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ nội dung, mục tiêu và định hướng điều chỉnh chính sách, chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết khi chính sách được ban hành, Cục Hải quan vừa có văn bản thông tin về nội dung giảm mức thuế đối với hàng hóa có trị giá nhỏ tại Điều 29 dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Theo Cục Hải quan, chính sách miễn thuế đối với hàng hóa giá trị nhỏ được áp dụng nhằm giảm chi phí quản lý và tạo thuận lợi thương mại. Tuy nhiên, khi quy mô giao dịch tăng nhanh, chính sách này đã bộc lộ một số hạn chế như tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng nhập khẩu so với hàng sản xuất trong nước, làm phát sinh nguy cơ gian lận thông qua việc chia nhỏ đơn hàng để hưởng ưu đãi thuế và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước.
Tại Việt Nam, ngày 3/1/2025, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2025/QĐ-TTg bãi bỏ toàn bộ Quyết định số 78/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 về mức giá trị hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh được miễn thuế, qua đó chấm dứt chính sách miễn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu có giá trị nhỏ gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh.
Đến nay, quy định miễn thuế đối với hàng có giá trị nhỏ chỉ còn áp dụng đối với thuế nhập khẩu (được quy định tại khoản 5 Điều 16 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu). Quy định này được ban hành căn cứ điểm 4.13 Chương IV (Thuế hải quan và các loại thuế khác) Phụ lục tổng quát của Nghị định thư sửa đổi về Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto): “Luật pháp quốc gia phải quy định giá trị tối thiểu và/hoặc giá trị thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế khác tối thiểu mà dưới mức đó sẽ không thu bất kể một khoản thuế xuất nhập khẩu và bất kỳ loại thuế nào khác”.
Đây là nội dung bắt buộc các quốc gia thành viên phải áp dụng (bao gồm 140 nước tham gia và Việt Nam chính thức trở thành thành viên Công ước này từ ngày 08/01/2008). Theo quy định tại điểm 5 khoản 6 Chương 3 phần thân Công ước thì các nước thành viên có nghĩa vụ thực hiện toàn bộ các quy định tại Thân Công ước và Phụ lục tổng quát mà không được bảo lưu (chỉ được bảo lưu không tham gia đối với phụ lục khác ngoài Phụ lục tổng quát).
Giải thích về quy định miễn thuế đối với hàng hóa giá trị nhỏ tại điểm 4.13 tại Công ước về nội hàm của chính sách này như sau: “Việc thu và nộp thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế khác không nên yêu cầu cho các khoản thu quá nhỏ cho nguồn thu bởi lẽ sẽ tốn chi phí giấy tờ cho cả Hải quan và nhà xuất nhập khẩu. Các cơ quan Hải quan phải thiết lập và quy định trong luật pháp quốc gia trị giá mà nếu số thuế xuất nhập khẩu và các loại thuế khác dưới mức đó sẽ không phải thu hoặc nộp”.
Theo đó, việc pháp luật Việt Nam quy định ngưỡng miễn thuế đối với hàng hóa có trị giá hoặc số tiền thuế phải nộp ở mức thấp là tuân thủ theo quy định tại Công ước Kyoto sửa đổi. Công ước không đưa ra một mức trị giá tối thiểu chung áp dụng cho tất cả các quốc gia mà dành cho pháp luật quốc gia xác định ngưỡng phù hợp với điều kiện quản lý, chính sách thuế và yêu cầu tạo thuận lợi thương mại của từng nước. Do đó, các quốc gia thành viên có thể chủ động xác định, điều chỉnh hoặc hoàn thiện chính sách này phù hợp với yêu cầu quản lý trong từng thời kỳ và được cân nhắc trên cơ sở tương quan giữa số thuế phải thu với chi phí hành chính phát sinh trong quá trình tính, thu và quản lý thuế. Công ước không ấn định.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn quản lý trong nước, xu hướng điều chỉnh chính sách thuế đối với hàng hóa trị giá nhỏ của các quốc gia thì Bộ Tài chính thấy rằng không nên quy định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa có trị giá nhỏ. Tuy nhiên, do Việt Nam là thành viên Công ước Kyoto và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành vẫn đang quy định miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với hàng hóa có giá trị nhỏ nên Bộ Tài chính đề xuất vẫn tiếp tục quy định miễn thuế nhưng cần sửa lại mức miễn thuế để đảm bảo công bằng với hàng hóa trong nước.
Cụ thể sửa đổi Điều 29 theo hướng miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng hóa số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp từ 10.000 đồng trở xuống (10.000 đồng là Phí hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh, bưu chính quy định tại Thông tư số 86/2025/TT-BTC ngày 28/8/2025 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí hải quan và lệ phí hàng hóa, phương tiện vận tải quá cảnh lấy mức thuế được miễn là 10.000 đồng tương ứng với phí hải quan để phù hợp với nguyên tắc bù đắp chi phí về thủ tục hải quan cho nhà nhập khẩu) hoặc hàng hóa có tổng trị giá hải quan từ 100.000 đồng Việt Nam trở xuống cho một lần xuất khẩu, nhập khẩu (theo biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi bình quân khoảng 11,8%, theo đó, đối với 5 hàng hóa có số tiền thuế phải nộp là 10.000 đồng thì lấy mức thuế suất là 10% để tính trị giá hải quan của hàng hóa tương ứng khoảng 100.000 đồng). Quy định này áp dụng thống nhất đối với cả hàng hóa gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh.
Ngoài ra, Điều 29 có khoản 4 và khoản 5 quy định về hồ sơ, thủ tục miễn thuế cũng cần lược bỏ do đã được đưa vào Thông tư số 86/2026/TT-BTC để thực hiện theo thẩm quyền ban hành văn bản quy định tại Luật Quản lý thuế.