Khẳng định cam kết chính trị
Từ ngày 20 đến 25/9/2026, chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 tại New York của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới quan sát quốc tế. Vượt lên trên khuôn khổ của một chuyến đi ngoại giao đa phương thông thường, sự kiện này còn tạo đòn bẩy chính trị để thúc đẩy quá trình đàm phán, tiến tới ký kết Hiệp định thương mại đối ứng Việt Nam - Hoa Kỳ. Trong bối cảnh quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa hai quốc gia đang đòi hỏi những nội hàm thực chất và đột phá, hiệp định này được xem là "mảnh ghép vàng", định hình lại vị thế của kinh tế Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tiếp Đại sứ Jamieson Greer, Trưởng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chính thức hoan nghênh việc Việt Nam và Mỹ đạt được những kết quả rất tích cực, hướng tới mục tiêu sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng.
Việc người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam đưa ra thông điệp hoan nghênh trực tiếp tại Mỹ cho thấy quá trình đàm phán đã vượt qua những rào cản phức tạp để bước vào giai đoạn quyết định. Sự thống nhất ở cấp vĩ mô này là tín hiệu xanh mạnh mẽ nhất, xua tan những e ngại của giới đầu tư và khẳng định quyết tâm chính trị không thể đảo ngược của Việt Nam trong việc hội nhập kinh tế sâu rộng.
Việt Nam và Mỹ đã trải qua nhiều phiên đàm phán trong khuôn khổ Hiệp định thương mại đối ứng, hai bên đã đạt được sự thống nhất khá cao và quan điểm tương đối gần nhau. Tháng 10/2025, 2 nước đồng ý công bố Tuyên bố chung Việt - Mỹ về Khuôn khổ Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng (Tuyên bố chung).
Tuyên bố chung là văn bản mà Việt Nam và Mỹ thống nhất đưa ra để thể hiện kết quả về đàm phán thương mại đối ứng giữa hai nước cũng như để ghi nhận nỗ lực của các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp Việt - Mỹ trong việc xây dựng quan hệ kinh tế, thương mại trên cơ sở cân bằng, ổn định và bền vững, phù hợp với mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Mỹ.
Bản Tuyên bố chung đề cập đến các nội dung chính của Hiệp định thương mại đối ứng, công bằng và cân bằng, theo đó cả Việt Nam và Mỹ sẽ cùng hợp tác trên tinh thần xây dựng để giải quyết mối quan tâm của cả hai bên liên quan đến các rào cản phi thuế quan, thống nhất các cam kết liên quan đến thương mại số, dịch vụ và đầu tư; thảo luận về sở hữu trí tuệ, phát triển bền vững, cũng như tăng cường hợp tác để nâng cao khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng…
Một hiệp định thương mại đối ứng được xây dựng dựa trên nguyên tắc cốt lõi: có đi có lại, công bằng và minh bạch. Đối với Mỹ, hiệp định này là lời giải cho bài toán cân bằng cán cân thương mại, khi Việt Nam cam kết mở cửa thị trường, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa, dịch vụ, thiết bị công nghệ nguồn và năng lượng sạch của Mỹ thâm nhập.
Điều này có thể thấy được qua buổi tiếp lãnh đạo Warburg Pincus, Boeing và Apple tại New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các tập đoàn mở rộng đầu tư, hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, công nghiệp và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tổng Giám đốc Tập đoàn Apple Tim Cook, bày tỏ mong muốn tiếp tục mở rộng hiện diện, tăng cường hợp tác với các đối tác trong nước, phát triển chuỗi cung ứng, đào tạo nguồn nhân lực và đóng góp vào quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo của Việt Nam.
Còn ông Brendan Nelson, Chủ tịch Boeing Global, Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Boeing đánh giá Việt Nam là thị trường tiềm năng, có nhiều điều kiện thuận lợi; cho biết Boeing định hướng trở thành cầu nối thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời hỗ trợ Việt Nam trong nghiên cứu, thẩm định, bảo trì, sửa chữa, đại tu máy bay, đào tạo phi công, kỹ sư và quản lý bay.
Chủ tịch Tập đoàn Warburg Pincus, ông Chip Kaye cho biết Warburg Pincus tập trung đầu tư vốn dài hạn vào các doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng, đồng thời hỗ trợ chiến lược, quản trị và mở rộng thị trường. Trong thời gian tới, tập đoàn dự kiến tiếp tục mở rộng đầu tư vào AI, hạ tầng số, trung tâm dữ liệu, dịch vụ tài chính, y tế, logistics và các tài sản hạ tầng; qua đó tăng cường kết nối Việt Nam với thị trường thế giới.
Ở chiều ngược lại, đối với Việt Nam, hiệp định sẽ tạo ra một tấm "khiên pháp lý" vững chắc. Các ngành hàng xuất khẩu chủ lực mang lại hàng chục tỷ USD như điện tử, dệt may, da giày, nông sản sẽ được bảo vệ tốt hơn trước những rủi ro bất trắc từ các biện pháp phòng vệ thương mại hay thuế chống bán phá giá. Thứ hai, trong bối cảnh các tập đoàn đa quốc gia đang ráo riết tái cấu trúc chuỗi cung ứng (friend-shoring), một hiệp định thương mại toàn diện với Mỹ chính là "chứng chỉ tín nhiệm" danh giá nhất. Nó sẽ tháo gỡ tâm lý phòng thủ, kích hoạt làn sóng đầu tư trực tiếp (FDI) thế hệ mới từ Mỹ đổ vào Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi xanh.
Một hiệp định thương mại hiện đại không chỉ xoay quanh thuế quan mà còn phụ thuộc vào năng lực hạ tầng để hấp thụ công nghệ và luân chuyển hàng hóa. Tầm nhìn chiến lược này được hiện thực hóa qua cuộc làm việc giữa Tổng Bí thư, Chủ tịch nước và Quyền Giám đốc Cơ quan Thương mại và Phát triển Hoa Kỳ (USTDA), ông Thomas R. Hardy.
USTDA là cơ quan chuyên cung cấp các công cụ hỗ trợ chuẩn bị dự án, nghiên cứu khả thi và kết nối thương mại. Lãnh đạo Việt Nam đã chủ động đề nghị USTDA tập trung tài trợ, làm "bà đỡ" cho các dự án hạ tầng chiến lược, có tính lan tỏa cao như: trung tâm dữ liệu, mạng lưới điện thông minh, hạ tầng số, cảng biển logistics và hàng không.
Kiến tạo không gian thuận lợi từ ngoại giao toàn diện
Triển vọng của một hiệp định thương mại không thể tách rời khỏi một môi trường ngoại giao thuận lợi. Chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã làm nổi bật vai trò kiến tạo không gian này.
Sự tự tin của Việt Nam khi bước vào kỷ nguyên vươn mình đã được thể hiện rõ nét qua hình ảnh một đất nước đổi mới, có trách nhiệm với các vấn đề toàn cầu (như biến đổi khí hậu, quản trị công nghệ) và cam kết thực thi luật pháp quốc tế.
Hơn thế nữa, các yếu tố về ngoại giao nhân dân và trí thức cũng được phát huy tối đa. Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước trao Huân chương hữu nghị tặng những người bạn Mỹ giúp bồi đắp tình cảm bền chặt. Cùng với đó, việc lắng nghe, trân trọng các chuyên gia, trí thức kiều bào chính là bước chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng tiếp nhận quá trình chuyển giao công nghệ từ Mỹ. Mạng lưới ngoại giao đa phương cũng được mở rộng qua các cuộc gặp gỡ bên lề, điển hình như lời mời Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ thăm Việt Nam, cho thấy Việt Nam luôn chủ động đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế.
Chuyến đi Mỹ tham dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 81 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tạo ra một lực đẩy quan trọng cho tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Trọng tâm của lực đẩy đó chính là những triển vọng tươi sáng, "đến rất gần kết quả cuối cùng" của Hiệp định thương mại đối ứng Việt Nam - Hoa Kỳ.
Sự kết hợp đồng bộ giữa cam kết chính trị, các bước chuẩn bị bài bản và một chiến lược ngoại giao toàn diện đã kiến tạo một bệ phóng vững chắc. Khi Hiệp định thương mại đối ứng này chính thức được ký kết, nó sẽ không chỉ là một văn kiện kinh tế, mà là một dấu mốc lịch sử, đưa Việt Nam hội nhập ở một tâm thế mới, vị thế mới, sẵn sàng nắm bắt các công nghệ lõi để hiện thực hóa khát vọng phát triển trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tính từ năm 1995, khi hai nước bình thường hóa quan hệ, thương mại song phương đã tăng từ 450 triệu USD năm 1995 lên mức hơn 123 tỷ USD vào năm 2022; đạt 110,84 tỷ USD vào năm 2023; đạt gần 134,6 tỷ USD năm 2024; và gần 200 tỷ USD năm 2025.
Tính đến hết tháng 8/2026, tổng kim ngạch thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ đạt khoảng 137,42 tỷ USD, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Theo Bộ Công Thương, quan hệ thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ tiếp tục ghi nhận đà tăng trưởng mạnh, đóng góp đáng kể vào hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ cũng tăng qua từng năm.
Lũy kế đến cuối tháng 7/2026, Hoa Kỳ có 1.587 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký khoảng 12,5 tỷ USD.Hợp tác khoa học-công nghệ cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành ưu tiên quan trọng giữa hai nước.
Hợp tác giáo dục-đào tạo, y tế, văn hóa, du lịch giữa hai nước cũng ngày càng mở rộng, thực chất hơn trên những lĩnh vực mà Hoa Kỳ có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu.
Giao lưu văn hóa và nhân dân giữa hai nước phát triển mạnh mẽ, thể hiện qua tăng trưởng về số lượng du học sinh, du lịch… tạo cầu nối hiểu biết sâu sắc hơn giữa nhân dân hai nước. Ngoài ra, hai bên cũng tiếp tục phối hợp tốt tại các diễn đàn đa phương và quốc tế.