Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Nghị quyết 57
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Phú Thọ xác định đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm để tạo nền tảng phát triển nhanh và bền vững.
Đến quý III/2026, tổng số nhiệm vụ được theo dõi, tổng hợp trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là 276 nhiệm vụ. Trong đó, 170 nhiệm vụ đã hoàn thành, đạt 61,6%; 7 nhiệm vụ đang thực hiện và 99 nhiệm vụ thường xuyên.
Công tác chỉ đạo, điều hành được tỉnh triển khai theo hướng thống nhất đầu mối, rõ trách nhiệm, tăng cường theo dõi, đôn đốc và xử lý các điểm nghẽn. Cùng với việc bảo đảm tiến độ các nhiệm vụ được giao, Phú Thọ chú trọng đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Bí thư Tỉnh ủy Phạm Đại Dương vừa yêu cầu tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, kế hoạch của Trung ương theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thời hạn và rõ thẩm quyền. Mục tiêu được tỉnh Phú Thọ đặt ra là phấn đấu đưa Phú Thọ trở thành địa phương tiên phong về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Chuyển đổi số tại Phú Thọ đang được triển khai đồng bộ trên các trụ cột dịch vụ công, hạ tầng số, dữ liệu số, nhân lực số, kinh tế số và xã hội số.Tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận trực tuyến đạt 97,97%; tỷ lệ giải quyết đúng và trước hạn đạt 96,46%. Riêng cơ chế “Luồng xanh”, 539/539 hồ sơ đã được giải quyết đúng và trước hạn, cho thấy việc ứng dụng nền tảng số đang gắn ngày càng chặt với cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Hạ tầng viễn thông tiếp tục được mở rộng. Toàn tỉnh đã nâng cấp hơn 3.800 trạm BTS, triển khai trên 1.600 trạm 4G và bắt đầu phát sóng 5G từ tháng 10/2025. Đến nay, 100% xã, phường có cáp quang băng rộng; 5G đã phủ 100% đô thị trung tâm, khu công nghiệp, tỷ lệ dân số được phủ sóng đạt trên 67%, vượt chỉ tiêu năm 2026.
Cáp quang băng rộng đã được cung cấp đến toàn bộ cơ quan nhà nước và gần 80% hộ gia đình. Đáng chú ý, 100% thôn, bản thuộc khu vực đặc biệt khó khăn đã được phủ sóng di động. Những khu vực lõm sóng được rà soát, xử lý kịp thời, bảo đảm thông tin thông suốt. Trên 80% dân số trong độ tuổi trưởng thành sở hữu điện thoại thông minh, tạo điều kiện để các nền tảng số tiếp tục mở rộng tới người dân.
Đối với khu vực doanh nghiệp, việc hỗ trợ đổi mới công nghệ, quản lý chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ tiếp tục được triển khai. Toàn tỉnh hiện có 25 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 6 doanh nghiệp công nghệ cao, với doanh thu 9 tháng năm 2026 ước đạt trên 70.000 tỷ đồng.
Những con số này cho thấy khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không chỉ dừng ở việc xây dựng hạ tầng hay số hóa thủ tục, mà đang từng bước trở thành một phần của hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Từ chính quyền số đến công dân số ngay tại cơ sở
Một trong những nền tảng quan trọng để chuyển đổi số đi vào thực chất là xây dựng hệ thống quản trị dựa trên dữ liệu và hình thành lực lượng hỗ trợ ngay tại cơ sở.
Hệ thống quản lý văn bản và điều hành hiện được triển khai tới gần 2.500 cơ quan, đơn vị với khoảng 30.000 tài khoản sử dụng. 100% văn bản điện tử, trừ văn bản mật, được ký số, góp phần rút ngắn thời gian xử lý công việc, tăng tính minh bạch và hiệu quả điều hành.
Cùng với chính quyền số, Phú Thọ chú trọng mở rộng khả năng tiếp cận công nghệ của người dân. Toàn tỉnh hiện có hơn 5.000 Tổ Công nghệ số cộng đồng với khoảng 30.000 thành viên hoạt động tại 100% thôn, tổ dân phố. Lực lượng này đang trở thành “cánh tay nối dài”, hỗ trợ người dân cài đặt ứng dụng số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và tiếp cận các nền tảng số trong đời sống.
Tại xã Bình Tuyền, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng gắn với phong trào “Bình dân học vụ số” đang được triển khai theo hướng cụ thể hơn. Các thành viên được tập huấn để hỗ trợ người dân sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến, thanh toán số, các tiện ích số thiết yếu; đồng thời hướng dẫn bảo vệ thông tin cá nhân, nhận diện và phòng tránh lừa đảo trên môi trường mạng.
Thực tế tại địa phương cho thấy lực lượng công nghệ số cơ sở có vai trò quan trọng trong việc đưa các tiện ích số đến gần người dân. Đến ngày 1/4/2026, xã Bình Tuyền đã tích hợp tài khoản an sinh xã hội trên VNeID cho 11.863/16.336 trường hợp, đạt 72,6%; Sổ sức khỏe điện tử đạt khoảng 11.900/14.252 trường hợp, tương đương 83,5%.
Từ những kết quả này, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng số lượng các đợt tập huấn mà phải đo lường bằng kết quả người dân thực sự sử dụng được các nền tảng số. Hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng vì vậy được định hướng gắn với nhu cầu thực tế từng khu dân cư, từ hướng dẫn tại nhà văn hóa thôn đến hỗ trợ trực tiếp tại hộ gia đình.
Đây cũng là cách để chuyển đổi số không bị giới hạn trong khu vực công mà lan tỏa sang đời sống, sản xuất và kinh doanh. Khi người dân có kỹ năng số, doanh nghiệp có môi trường số và chính quyền vận hành trên nền tảng dữ liệu, các nguồn lực công nghệ mới có điều kiện phát huy hiệu quả cao hơn như một động lực quan trọng cho tăng trưởng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.