Ngày 25/9, tại Hà Nội, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Vụ Thanh toán, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội thảo “Thúc đẩy thanh toán xuyên biên giới qua mã QR: Động lực mới cho bán lẻ và du lịch”.
Biến lợi thế phổ cập thanh toán số thành những giá trị cụ thể
Hội thảo diễn ra trong bối cảnh ngành ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và tăng cường kết nối hạ tầng thanh toán với các thị trường quốc tế.
Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến rõ nét về thanh toán không dùng tiền mặt. Hạ tầng thanh toán ngày càng hiện đại, các phương thức thanh toán số ngày càng phổ biến, trong đó thanh toán qua mã QR đã trở thành một phương thức quen thuộc đối với người dân và doanh nghiệp. Đây là nền tảng quan trọng để Việt Nam ta tiếp tục mở rộng khả năng kết nối thanh toán với các quốc gia, vùng lãnh thổ.
Theo NHNN, trong 8 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tiếp tục tăng trưởng khá. Giao dịch TTKDTM tăng 34,56% về số lượng và 13,26% về giá trị; qua kênh Internet đạt tăng 46,57% về số lượng và 21,77% về giá trị; qua kênh điện thoại di động tăng 35,33% về số lượng và 2,39% về giá trị. Trong đó, giao dịch thanh toán qua phương thức QR code đạt 311 triệu giao dịch với giá trị đạt 274,2 nghìn tỷ đồng (tăng 6,66% về số lượng và 25,85% về giá trị).
Theo số liệu từ NAPAS, VietQRGlobal đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao tại các thị trường đã kết nối. Trong 8 tháng năm 2026, số lượng giao dịch của du khách từ Thái Lan, Lào và Campuchia tại Việt Nam tăng 8 lần trong khi giá trị giao dịch tăng 6 lần so với cùng kỳ năm 2025. Ở chiều ngược lại, giao dịch của người Việt Nam tại ba thị trường này tăng 5 lần về số lượng và 4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Theo các chuyên gia tại Hội thảo, Việt Nam hiện đang có nền tảng thuận lợi để tiếp tục phát triển một hệ sinh thái thanh toán số hiện đại, an toàn và có khả năng kết nối ngày càng sâu rộng với khu vực và thế giới. Điều quan trọng là Việt Nam phải biến lợi thế về hạ tầng và mức độ phổ cập thanh toán số thành những giá trị cụ thể cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Tiến Dũng, phát triển thanh toán bán lẻ xuyên biên giới qua mã QR cần được nhìn nhận rộng hơn: từ kết nối hạ tầng thanh toán đến kết nối người dân, doanh nghiệp; từ kết nối hệ thống đến hỗ trợ dòng chảy của du lịch, bán lẻ, thương mại và dịch vụ. Nói cách khác, kết nối hạ tầng là điểm khởi đầu, còn kết nối kinh tế mới là mục tiêu cần hướng tới.
Ngân hàng Nhà nước đã và đang thúc đẩy hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR với một số quốc gia trong khu vực và các đối tác quan trọng. Quá trình này không chỉ góp phần tạo thêm lựa chọn thanh toán thuận tiện cho người dân và du khách, mà còn mở ra cơ hội để các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh, tiếp cận tốt hơn với khách hàng quốc tế.
Nhưng mở rộng kết nối phải đi cùng với chất lượng và an toàn, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý: “Khi không gian thanh toán vượt qua biên giới quốc gia, sự tham gia của nhiều chủ thể, nhiều hệ thống và nhiều khuôn khổ pháp lý cũng làm cho yêu cầu quản trị trở nên phức tạp hơn. Do đó, cùng với việc mở rộng mạng lưới, chúng ta phải đặc biệt coi trọng an toàn, bảo mật, phòng chống gian lận, phòng chống rửa tiền, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ quyền lợi khách hàng và bảo đảm hoạt động thanh toán, quyết toán được thông suốt”.
Cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới
Phát biểu tại Hội thảo, ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN Việt Nam), nhấn mạnh: “Thanh toán QR xuyên biên giới không chỉ là câu chuyện của công nghệ thanh toán, mà còn là một cấu phần của hạ tầng kinh tế số, một công cụ hỗ trợ trực tiếp cho giao thương, du lịch và tiêu dùng”.
Theo ông Phạm Anh Tuấn, trong giai đoạn tới, mục tiêu không chỉ là mở rộng mạng lưới thanh toán xuyên biên giới, mà quan trọng hơn là gia tăng mức độ sử dụng, bảo đảm an toàn, nâng cao hiệu quả và tạo ra nhiều giá trị hơn cho nền kinh tế.
Trên tinh thần đó, Hội thảo tập trung thảo luận những vấn đề trọng tâm liên quan đến: (1) mở rộng hạ tầng VietQRGlobal; (2) giải pháp tối ưu trải nghiệm thanh toán cho người Việt Nam ra nước ngoài và khách quốc tế đến Việt Nam; (3) mở rộng mạng lưới chấp nhận VietQRGlobal (merchant) tại các trung tâm thương mại, khu du lịch, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng và hộ kinh doanh; (4) chính sách hỗ trợ đối với các điểm chấp nhận thanh toán; (5) yêu cầu nâng cao an toàn, bảo mật trong bối cảnh tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng.
Về xây dựng, hoàn thiện thể chế và công tác chỉ đạo, NHNN đã nghiên cứu, tham mưu trình các cấp ban hành và ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, TTKDTM. Bên cạnh đó, NHNN đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng, tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp lý, cho phép ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua VNeID và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.
Hạ tầng phục vụ TTKDTM, chuyển đổi số ngành ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp, phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTLNH) hoạt động thông suốt, an toàn, hiệu quả. Các hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối sản phẩm, dịch vụ, nền tảng với các ngành, lĩnh vực khác để cung cấp dịch vụ công qua Cổng dịch vụ công Quốc gia, tập trung vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông.
Mạng lưới ATM, POS; mạng lưới chấp nhận thanh toán (POS/QR Code) phủ đến hầu hết các địa phương trên toàn quốc. NHNN đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và các quốc gia (Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore), đang triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam với một số quốc gia khác. Các tổ chức tín dụng đã đầu tư mạnh cho hạ tầng số và ứng dụng công nghệ mới, ưu tiên kinh phí cho nghiên cứu, phát triển và an toàn, an ninh mạng, chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực số.