Ngày 26/9, Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường đã tổ chức Hội thảo khoa học “Cơ sở pháp lý, thực trạng và giải pháp phát triển bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc tại Thủ đô Hà Nội - Tầm nhìn 100 năm”.
Nhu cầu điện cho giao thông có thể tăng lên khoảng 3,1–5,6 tỷ kWh/năm
Xu hướng điện hóa giao thông đang làm thay đổi mối quan hệ giữa giao thông và hệ thống năng lượng. Trước đây, phần lớn năng lượng cho phương tiện giao thông được cung cấp thông qua nhiên liệu hóa thạch tại các trạm xăng. Khi phương tiện chuyển sang sử dụng điện, hệ thống điện trở thành một phần trực tiếp của hạ tầng giao thông.
Tại Hội thảo, TS Bùi Hồng Cường, Viện trưởng Viện Hỗ trợ Pháp lý và Bảo vệ Môi trường nêu vấn đề, để đáp ứng xu hướng chuyển đổi xanh, một hướng tiếp cận là chuyển từ mô hình bãi đỗ xe tĩnh đơn thuần sang trung tâm dịch vụ giao thông - năng lượng thông minh. Theo mô hình này, bãi đỗ có thể kết nối bốn dòng chảy gồm phương tiện, năng lượng, dữ liệu và dịch vụ tiện ích. Thời gian chiếc xe nằm tại bãi không chỉ để đỗ mà có thể đồng thời là thời gian sạc điện, trong khi người sử dụng nghỉ ngơi, làm việc hoặc sử dụng các dịch vụ khác.
Theo ước tính của Bộ Công Thương, đến cuối năm 2025, điện năng dành cho giao thông đường bộ vào khoảng 652 triệu kWh, tương đương khoảng 0,2–0,3% tổng điện thương phẩm. Tuy nhiên, nếu số lượng ô tô điện đạt khoảng 1–1,6 triệu xe và xe máy điện đạt 8–13 triệu xe vào năm 2030, nhu cầu điện cho giao thông đường bộ có thể tăng lên khoảng 3,1–5,6 tỷ kWh mỗi năm, tương đương khoảng 0,68–1,1% tổng điện thương phẩm. Bộ Công Thương đồng thời lưu ý rằng thách thức không chỉ nằm ở tổng sản lượng điện mà còn ở công suất cực đại và sự tập trung phụ tải theo thời gian, địa điểm và hành vi sạc.
Theo các chuyên gia, một bãi đỗ có nhiều bộ sạc nhanh đồng nghĩa với việc hình thành một phụ tải điện có thể tăng rất nhanh trong thời gian ngắn. Nếu nhiều phương tiện cùng sạc, công suất cực đại của bãi đỗ có thể tăng mạnh, kéo theo yêu cầu về máy biến áp, cáp điện, thiết bị bảo vệ và năng lực đấu nối.
Trong khi đó, bãi đỗ xe có một lợi thế rất lớn về diện tích mái che điều này phù hợp để mái che thành không gian để lắp đặt điện mặt trời. Điện mặt trời có thể được sử dụng trực tiếp cho phụ tải của bãi đỗ và trạm sạc vào ban ngày, qua đó giảm lượng điện phải mua từ lưới. Khi kết hợp với hệ thống lưu trữ, phần điện mặt trời dư thừa có thể được sử dụng vào những thời điểm phù hợp hơn, đồng thời pin có thể hỗ trợ san tải khi nhiều bộ sạc hoạt động đồng thời.
Để minh họa tính khả thi tài chính của việc tích hợp này, ông Phạm Ngọc Hoàn, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Dầu khí Bách Khoa cho biết, có thể tham khảo một ví dụ tính toán đơn giản: Với một trạm sạc có diện tích mái khoảng 250 m², đầu tư hệ thống điện mặt trời mái che công suất 50 kW, tổng vốn đầu tư ban đầu khoảng 700 triệu đồng. Với điều kiện bức xạ mặt trời tại Hà Nội, hệ thống này tạo ra sản lượng điện trung bình khoảng 5250 kWh mỗi tháng, tương đương 63.000kWh mỗi năm, giúp tiết kiệm khoảng 16,8 triệu đồng chi phí điện mỗi tháng, tương đương gần 200 triệu đồng mỗi năm. Theo đó, thời gian thu hồi vốn chỉ khoảng 3,5 năm, trong khi vòng đời vận hành của hệ thống pin quang điện thường kéo dài 20 đến 25 năm.
“Từ thực tiễn triển khai các dự án năng lượng, chúng tôi cho rằng bãi đỗ xe thông minh cần được xác định là một điểm dịch vụ đô thị có khả năng kết nối bốn dòng vận hành gồm phương tiện, năng lượng, dữ liệu và thanh toán. Người dân cần tìm được chỗ đỗ, đặt chỗ, ra vào và thanh toán thuận tiện. Đơn vị vận hành cần theo dõi doanh thu, tình trạng thiết bị, tải điện và sự cố theo thời gian thực. Cơ quan quản lý cần có dữ liệu để quy hoạch và điều tiết. Còn nhà đầu tư cần một mô hình doanh thu đủ rõ để có thể huy động vốn và thu hồi vốn trong thời hạn hợp lý”, ông Phạm Ngọc Hoàn cho biết.
Giải pháp về thể chế, quy hoạch và quỹ đất
Tại Hội thảo, các chuyên gia và nhà quản lý doanh nghiệp nhìn nhận, tầm nhìn 100 năm của quy hoạch không nên được hiểu là lựa chọn một công nghệ rồi cố định công nghệ đó trong 100 năm. Công nghệ pin, bộ sạc, phần mềm quản lý năng lượng và phương thức thanh toán sẽ tiếp tục thay đổi. Vì vậy, điều cần bảo vệ lâu dài là quỹ đất, cấu trúc hạ tầng và khả năng mở rộng, còn thiết bị phải được thiết kế theo hướng mô-đun, có thể thay thế và nâng cấp.
Bà Phạm Thị Minh Trinh, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển Thuận An Holding cho biết, chủ trương phát triển hạ tầng hiện đại, chuyển đổi số và chuyển đổi năng lượng đã được thể hiện trong các Nghị quyết, chính sách của Trung ương và Thành phố, nhưng chủ trương không thay thế hồ sơ pháp lý của một khu đất cụ thể.
Từ kinh nghiệm của các dự án đang được Thuận An Holding nghiên cứu, bà Phạm Thị Minh Trinh đề xuất làm rõ các căn cứ pháp lý, đầu tư hạ tầng cơ bản và bảo đảm an toàn trước; sau đó mới mở rộng trạm sạc, năng lượng và tự động hóa theo nhu cầu thực tế.
Đề xuất giải pháp và lộ trình thực hiện phát triển bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc tại Hà Nội, TS. Trịnh Xuân Đức, PCT Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam cho biết, trước hết là cần giải pháp Thể chế và Quy hoạch. Theo đó, kiến nghị sửa đổi quy chuẩn xây dựng, cho phép gộp giấy phép "công trình giao thông", "công trình năng lượng" và "trạm sạc" làm một để dễ cấp phép. Đưa mô hình này thành hạng mục bắt buộc trong các khu đô thị mới.
Thứ hai triển khai mô hình tài chính và Hợp tác Công - Tư (PPP). Đề xuất cơ chế để thu hút vốn tư nhân (chính quyền cho thuê đất giá ưu đãi/làm mặt bằng nền; doanh nghiệp đầu tư khung thép, trạm sạc, pin mặt trời). Doanh nghiệp thu hồi vốn qua 3 nguồn: Phí gửi xe + Phí sạc điện + Bán điện/Tín chỉ Carbon.
Về lộ trình triển khai, TS. Trịnh Xuân Đức đề xuất các pha thực hiện: Thí điểm tại bến xe Yên Nghĩa, Ga Cát Linh (giai đoạn 2025-2027); nhân rộng ra các bãi đất xen kẹt nội đô (2027-2030). Theo TS. Trịnh Xuân Đức mô hình bãi đỗ xe thông minh kết hợp trạm sạc không chỉ là một dự án xây dựng, mà là một triết lý phát triển hạ tầng đa năng. Mô hình đáp ứng bức thiết hiện tại (thiếu chỗ đỗ, thiếu điện sạc) và thỏa mãn tầm nhìn 100 năm của Hà Nội (linh hoạt, dễ tháo dời, xanh hóa, và thích ứng với mọi biến động của kỷ nguyên công nghệ di chuyển).