Chuyển từ nội địa hóa sang làm chủ năng lực

Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” tổ chức ngày 30/9 tại Phú Thọ, các đại biểu tập trung phân tích vai trò của công nghiệp hỗ trợ đối với năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của nền kinh tế. Hội thảo do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Phú Thọ và Bộ Công Thương tổ chức. Dự hội thảo và điều hành có đồng chí Nguyễn Thanh Nghị - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Phạm Gia Túc - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Lê Mạnh Hùng - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương; Phạm Đại Dương - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương.

Hội thảo khoa học quốc gia
Hội thảo khoa học quốc gia "Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam"  Ảnh: chinhphu.vn

Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, công nghiệp hỗ trợ phải được nhìn nhận là nền tảng của nền công nghiệp quốc gia. Năng lực công nghiệp không chỉ thể hiện ở sản lượng hay kim ngạch xuất khẩu, mà quan trọng hơn là khả năng làm chủ vật liệu, linh kiện, thiết bị, công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn và các công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Từ thực tế doanh nghiệp còn hạn chế về vốn dài hạn, công nghệ, quản trị, nhân lực kỹ thuật, nghiên cứu và phát triển, ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng cần chuyển từ “nội địa hóa sản phẩm” sang “nội địa hóa giá trị và năng lực”, từ yêu cầu “có sản phẩm” sang “có năng lực”.

Theo đó, phát triển công nghiệp hỗ trợ cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường, đơn hàng và yêu cầu của chuỗi giá trị; lấy doanh nghiệp làm trung tâm, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho các lĩnh vực có khả năng tạo bước đột phá như bán dẫn, AI, robot, tự động hóa, vật liệu mới, pin và lưu trữ năng lượng, sản xuất thông minh.

Tạo thị trường, đơn hàng và doanh nghiệp dẫn dắt

Thực tế cho thấy công nghiệp hỗ trợ Việt Nam đã hình thành nền tảng nhất định nhưng vẫn còn khoảng cách về chiều sâu công nghệ, năng lực cung ứng và khả năng tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao. Cả nước hiện có trên 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, song khoảng 30% tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Một trong những điểm nghẽn được chỉ ra là doanh nghiệp thiếu thị trường và đơn hàng ổn định; khả năng đáp ứng tiêu chuẩn, thử nghiệm, chứng nhận còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp dẫn dắt với các nhà cung ứng trong nước chưa chặt chẽ.

Kết luận hội thảo, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh cần thay đổi cách tiếp cận trong phát triển công nghiệp hỗ trợ: từ nội địa hóa theo tỷ lệ sang làm chủ năng lực; từ hỗ trợ dàn trải sang tập trung theo chuỗi; từ ưu đãi đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả.

Theo định hướng này, Nhà nước cần kiến tạo thị trường dẫn dắt, trong đó các dự án lớn của đất nước có thể trở thành những “đơn đặt hàng đầu tiên” cho doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó là phát triển doanh nghiệp dẫn dắt, nhà cung ứng cấp 1, cấp 2; xây dựng hạ tầng kỹ thuật dùng chung, nâng khả năng tiếp cận vốn và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về năng lực doanh nghiệp.

Đây cũng là yêu cầu nhằm giảm tình trạng công nghiệp hỗ trợ “rộng mà chưa sâu, nhiều mà chưa mạnh”, từng bước nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước và khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng.

Phú Thọ phát huy lợi thế, tăng liên kết vùng

Đối với Phú Thọ, hội thảo cũng đặt ra yêu cầu phát huy lợi thế về vị trí, nền tảng công nghiệp và khả năng liên kết vùng để tham gia sâu hơn vào mạng lưới công nghiệp hỗ trợ.

Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước và yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển dựa trên lợi thế của từng địa phương. Theo đó, cần tạo sự giao thoa giữa các chính sách về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế tư nhân, thu hút FDI và công nghiệp hỗ trợ, qua đó tối ưu hóa nguồn lực và hình thành hệ sinh thái liên kết.

Bí thư Tỉnh ủy Phạm Đại Dương nhấn mạnh vai trò kiến tạo phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ thu hút đầu tư.
Bí thư Tỉnh ủy Phạm Đại Dương nhấn mạnh vai trò kiến tạo phát triển công nghiệp, khoa học công nghệ thu hút đầu tư.

Trong bối cảnh tổ chức lại không gian phát triển và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Phú Thọ cùng các địa phương có lợi thế cần xác định rõ lĩnh vực đột phá, tăng cường liên kết vùng; đồng thời phối hợp về quy hoạch, đầu tư, hạ tầng, dữ liệu và nguồn lực.

Phú Thọ có lợi thế về vị trí cửa ngõ kết nối khu vực trung du, miền núi với Đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc; hệ thống giao thông, các khu, cụm công nghiệp và nền tảng sản xuất đang được hình thành. Đây là cơ sở để tỉnh nghiên cứu phát triển các ngành cơ khí, điện tử, linh kiện ô tô, công nghiệp công nghệ cao và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Lấy doanh nghiệp và hiệu quả làm thước đo

Từ các ý kiến tại hội thảo, hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ được đặt trên ba trụ cột: nâng năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp; tạo thị trường và đơn hàng đủ lớn; đồng thời tổ chức lại không gian, hạ tầng và liên kết chuỗi cung ứng.

Các đại biểu thăm quan các gian hàng tại hội thảo. Ảnh: chinhphu.vn
Các đại biểu thăm quan các gian hàng tại hội thảo. Ảnh: chinhphu.vn

Cách tiếp cận mới không chỉ nhằm gia tăng số lượng doanh nghiệp hay tỷ lệ nội địa hóa, mà hướng tới hình thành các doanh nghiệp có đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, nhà cung ứng chiến lược và từng bước làm chủ các công đoạn có giá trị gia tăng cao.

Theo chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035, đến năm 2030, một số ngành công nghiệp chủ lực được định hướng đạt tỷ lệ nội địa hóa bình quân 40-45%, đồng thời nâng năng lực cạnh tranh công nghiệp vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN. Chương trình cũng nhấn mạnh lấy kết quả đầu ra, giá trị gia tăng tạo ra trong nước và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu làm những thước đo quan trọng.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam: Từ nội địa hóa đến làm chủ năng lực - ảnh 4

Với định hướng đó, phát triển công nghiệp hỗ trợ không còn chỉ là bài toán tăng tỷ lệ nội địa hóa, mà trở thành yêu cầu nâng cao năng lực sản xuất, công nghệ và liên kết của doanh nghiệp Việt Nam. Đây là nền tảng để xây dựng nền công nghiệp có tính tự chủ cao hơn, nâng sức cạnh tranh và tăng khả năng tham gia sâu vào các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.