Việt Nam đang tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1%, mức cao nhất trong 5 năm qua. Cùng với đó, hơn 80% vốn giải ngân tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo.

Phía sau những con số tăng trưởng lại có một mâu thuẫn đối lập kéo dài nhiều năm: khu vực FDI ngày càng mở rộng, nhưng khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước vẫn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp Việt chưa thể trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, chủ yếu tham gia những công đoạn gia công đơn giản và có giá trị gia tăng thấp.

Vì sao doanh nghiệp Việt vẫn khó kết nối dù vốn FDI tăng mạnh? - ảnh 1

Bà Bùi Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), cho biết tỷ lệ nội địa hóa trong chuỗi sản xuất của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam mới đạt khoảng 20-25%. Trong khi đó, nhiều tập đoàn nước ngoài đã có hệ thống nhà cung ứng ổn định từ trước khi đầu tư vào Việt Nam.

Với hơn 25 năm hoạt động trong ngành công nghiệp hỗ trợ, bà Trương Thị Chí Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI), cho rằng doanh nghiệp nội muốn gia nhập chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn không thể chỉ trông chờ vào việc được kết nối. Họ phải chứng minh mình đủ năng lực để trở thành nhà cung ứng thay thế.

Về nguyên tắc thị trường, doanh nghiệp Việt có thể tạo cơ hội nếu cung cấp linh kiện với giá cạnh tranh hơn và chất lượng tốt hơn. Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn chưa đạt được những yêu cầu tương đương nhà cung ứng quốc tế về công nghệ, quản trị chất lượng, quy mô sản xuất và khả năng giao hàng ổn định.

Bởi vậy, việc một tập đoàn FDI hiện diện tại Việt Nam không có nghĩa các doanh nghiệp nội địa đương nhiên có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng. Nếu không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chi phí và tiến độ, doanh nghiệp trong nước khó có thể thay thế những đối tác đã được kiểm chứng qua nhiều năm.

Theo bà Trương Thị Chí Bình, khả năng phát triển công nghiệp hỗ trợ phụ thuộc đáng kể vào dung lượng thị trường. Khi sản lượng đủ lớn, nhà cung ứng mới có cơ sở đầu tư máy móc, xây dựng nhà xưởng và phân bổ chi phí cố định trên nhiều sản phẩm, từ đó giảm giá thành.

Ngành công nghiệp xe máy từng tạo được nền tảng cho doanh nghiệp hỗ trợ trong nước một phần nhờ quy mô thị trường đủ lớn và nhu cầu sản xuất tại địa phương. Ngược lại, công nghiệp ô tô chưa đạt được tỷ lệ nội địa hóa như kỳ vọng. Một trong những nguyên nhân là thị trường bị chia nhỏ giữa nhiều dòng xe, khiến sản lượng của từng loại linh kiện chưa đủ lớn để hình thành các chuỗi sản xuất có hiệu quả kinh tế.

Bên cạnh quy mô, thị trường đầu ra cũng ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn nhà cung ứng. Với các doanh nghiệp FDI hướng đến tiêu thụ sản phẩm tại Việt Nam, việc phát triển mạng lưới cung ứng tại chỗ có thể giúp rút ngắn thời gian giao hàng, giảm chi phí vận chuyển và đáp ứng yêu cầu sản xuất đúng thời điểm. Những linh kiện cơ khí cồng kềnh cũng thường phù hợp hơn với phương án sản xuất gần nhà máy lắp ráp.

Trong khi đó, các tập đoàn chủ yếu sản xuất để xuất khẩu có thể tiếp tục sử dụng mạng lưới cung ứng toàn cầu đã hình thành. Với những linh kiện nhỏ, có giá trị cao, việc nhập khẩu để lắp ráp tại Việt Nam đôi khi thuận tiện hơn phát triển nhà cung ứng mới trong nước.

Điều này đặt ra yêu cầu phải xác định nhu cầu của nhà đầu tư ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án, chứ không chờ nhà máy đi vào hoạt động mới tìm cách kết nối doanh nghiệp Việt.

Theo bà Bình, một nhà máy mới thường cần khoảng hai năm để đi vào vận hành. Đây cũng là khoảng thời gian doanh nghiệp nội địa có thể tận dụng để đầu tư thiết bị, hoàn thiện quy trình và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.

Cơ cấu vốn FDI cấp mới dịch chuyển khỏi chế biến, chế tạo sang các ngành khác. (Ảnh: Quân Nguyễn)
Cơ cấu vốn FDI cấp mới dịch chuyển khỏi chế biến, chế tạo sang các ngành khác. (Ảnh: Quân Nguyễn)

Bài toán chi phí cũng cần được giải quyết nếu muốn doanh nghiệp trong nước đủ sức cạnh tranh. Thêm vào đó, giá thuê đất tại các khu công nghiệp ở khu vực tập trung nhiều nhà máy FDI vẫn ở mức cao. Ví dụ giá thuê mặt bằng quanh Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng có nơi khoảng 170 USD/m², trong khi một số khu vực xa hơn vẫn ở mức 90 USD/m². Cùng với đó là chi phí vốn lớn, trong khi biên lợi nhuận ngành chế tạo thường không cao và thời gian thu hồi vốn kéo dài.

Chính sách hỗ trợ cũng nên tập trung vào mặt bằng sản xuất và lãi suất vay đầu tư máy móc, thiết bị và nhà xưởng. Nếu chi phí đầu vào quá cao, doanh nghiệp sẽ khó mở rộng quy mô, ngay cả khi có cơ hội tiếp cận đơn hàng từ các tập đoàn lớn.

“Doanh nghiệp sản xuất, chế tạo của Việt Nam nếu mang tiền đi đầu tư bất động sản hoặc làm dịch vụ thì giàu to từ lâu rồi. Thế nhưng, họ vẫn chọn theo đuổi ngành chế tạo, trong khi biên lợi nhuận thấp, đòi hỏi nguồn vốn lớn và phải hiểu biết sâu về công nghệ. Bởi vì đấy là niềm tin, là tình yêu. Còn vì lợi nhuận thì không ai làm ngành này cả”, bà Trương Thị Chí Bình chia sẻ.

Những khó khăn này cho thấy muốn phát triển công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ yêu cầu doanh nghiệp nội nâng cao năng lực. Môi trường đầu tư cũng cần tạo điều kiện để họ có thể duy trì sản xuất dài hạn, tích lũy công nghệ và mở rộng quy mô.