Trong vài năm trở lại đây, văn học thiếu nhi Việt Nam bắt đầu xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm mang tinh thần sinh thái, nhưng không phải cuốn sách nào cũng vượt qua được giới hạn của một câu chuyện giáo huấn khoác áo đồng thoại.

Nhà phê bình Bùi Việt Thắng, trong Lời giới thiệu, gọi cuốn sách là “một diễn ngôn về nước”. Theo tôi, đây gần như là chiếc chìa khóa đắc dụng để bước vào chỉnh thể nghệ thuật của tác phẩm này. Bởi trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, nước trở thành cấu trúc vận động của mạng lưới sự sống. Mọi sinh thể đều phải học cách chảy, biến dòng và vượt thoát như nước. Từ hồ Cá Chéo đến mương nổi, từ đầm lúa đến vùng nước lợ, từ rừng ngập mặn đến vòng xoáy hóa rồng cuối tác phẩm, toàn bộ hành trình của Chép Hồng thực chất là hành trình học lấy bản thể lưu động của hiện tồn. 

Nếu văn minh nông nghiệp cổ điển thường lấy “đất” làm biểu tượng của sự cố định (định canh định cư), thì cuốn sách này lại lấy “nước” làm mô hình tồn tại - một mô hình mà ở đó, sống đồng nghĩa với chuyển di, thích nghi, tự định vị và tái cấu trúc chính mình không ngừng. Phải thế chăng mà hiện thực trong tác phẩm không có những biên giới bất dịch. Các cá thể sống luôn cài đặt mình ở chế độ “đi”. Ngay cả trưởng thành ở đây cũng không mang hình dạng của một nấc thang lên cao, mà giống một dòng chảy mở rộng dần ra. Chép Hồng lớn lên bằng cách bơi qua những tầng nước khác nhau của đời sống.

Nói cách khác, Chép Hồng một mặt chu du trong không gian thủy sinh, mặt khác học cách đọc quy luật của sinh tồn thông qua sự biến dịch của nước. Cách viết này của Phạm Hồng Điệp khá hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà Bùi Việt Thắng liên hệ tác phẩm với khái niệm “thủy nhân văn học” (hydro-humanities), một hướng nghiên cứu xem nước không chỉ là thực thể vật lí mà còn là diễn ngôn định hình bản sắc.

Bìa sách Tác phẩm
Bìa sách Tác phẩm "Cuộc phiêu du của Chép Hồng?

Trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng, nước mang theo kí ức cộng cư, kí ức văn hóa và cả nỗi bất an khi quan hệ giữa con người với tự nhiên đang ngày càng trở nên xung khắc. Vì thế, cuốn sách đã đành là viết cho thiếu nhi, nhưng cũng viết cho cả người lớn, đặc biệt là những người đang sống trong thời đại biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ô nhiễm và sự gãy vỡ ngày càng lớn giữa con người với chính sinh quyển của mình.

Một trong những vấn đề được khuyến cáo nhiều hiện nay là văn học dành cho thiếu nhi thường áp đặt điểm nhìn của người lớn; tức trẻ em chỉ là đối tượng tiếp nhận chân lí chứ không thực sự được sống bằng đôi mắt trong veo thành thực của mình. Cuộc phiêu du của Chép Hồng có ý thức bứt thoát khỏi lối viết ấy. Thực tại trong truyện phần lớn được nhìn từ "điểm nhìn bên trong” của các loài thủy sinh. Những nỗi sợ hãi, trực giác, linh cảm, kinh nghiệm sinh tồn, những thay đổi của môi trường nước… đều được cảm nhận từ chính quần thể ấy. Hay nói cách khác, điều đáng giá của tác phẩm không nằm ở việc nhân hóa loài cá, mà ở việc buộc con người dỡ bỏ vị trí trung tâm trịch thượng của mình. Có nghĩa, thay vì bắt thủy sinh “người hóa”, cuốn sách lại thử đặt con người vào vị thế phải “thủy sinh hóa” cái nhìn. Đó là một tái nhận thức quan trọng của văn học sinh thái đương đại: con người không còn là chủ thể tối cao đứng ngoài tự nhiên để quan sát, mà chỉ là một sinh thể trong mạng lưới cộng thông mênh mông của sự sống.

Ngay từ đầu, Chép Hồng đã được đặt vào một giao diện không hề… cổ tích hóa. Hồ Cá Chéo tuy rộng lớn nhưng vẫn là nơi của quần ngư tranh thực, nơi cá lớn nuốt cá bé. Tác giả không chỉ bày ra cho nhân vật chính đại lộ thẳng tắp rải đầy hoa lá, chỉ thuần là vương quốc mộng mơ, mà còn đặt nó vào những tình huống thử thách đúng theo tinh thần lửa thử vàng gian nan thử sức. Đây là điểm làm nên cảm thức đương đại của tác phẩm. Cuốn sách không ru ngủ trẻ em bằng một thế giới tuyệt đối an toàn và thiện lương. Trái lại, thủy sinh ở đây vận hành bằng một cơ chế khá gần với tinh thần Darwin mềm: muốn tồn tại phải biết tự điều tiết, muốn trưởng thành phải học cách đọc tín hiệu môi trường, phải biết dịch chuyển, liên minh và thay đổi. Sinh tồn không chỉ là bản năng, mà còn là kĩ năng. Trái tim nóng nhưng đầu phải lạnh, để tỉnh táo và thận trọng trong mỗi lựa chọn, trong từng bước đi. Sống là nghệ thuật, đúng hơn, là nghệ thuật chung sống. Đây là những bài học đắt giá mà Chép Hồng dần ngộ ra sau nhiều chuyến du hí. Những bài học này chạm tới một triết lí tồn sinh của thời đại. Có điều, tác phẩm không biến triết lí kiểu ấy thành những giáo điều khô cứng. Tri thức trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng phần lớn được tựu thành từ trải nghiệm. Mỗi vùng nước Chép Hồng đi qua đều tương ứng với một bài học cuộc sống khác nhau. Hồ Cá Chéo là không gian của cạnh tranh sinh tồn nguyên sơ; mương nổi dạy cá cách thích ứng với biến động dòng chảy; vùng nước lợ mở ra kinh nghiệm sống giữa giao thoa mặn - ngọt; còn rừng ngập mặn lại là trường học về trú ẩn tập thể. Chính trong cấu trúc phiêu du ấy, Chép Hồng không “được dạy” theo kiểu áp đặt, mà tự học qua va đập với đời sống. 

Tác giả Phạm Hồng Điệp
Tác giả Phạm Hồng Điệp

Tuy nhiên, qua đây, dễ thấy tác phẩm vẫn chưa hoàn toàn tẩy trắng được “điểm nhìn người lớn”. Chủ thể người lớn vẫn hiện diện như một ý thức tổ chức ngầm phía sau cuộc phiêu lưu của Chép Hồng. Nhiều đoạn còn khá đậm giọng đúc kết; nhiều bài học được phát biểu hơi tròn trịa; và đôi lúc các nhân vật trưởng thượng như bác Cá Trê, bác Cá Măng vẫn gợi dáng dấp những “mentor” xã hội học hơn là các sinh thể tự nhiên. Nhưng có lẽ đây không hẳn là điểm trừ của tác phẩm. Bởi Cuộc phiêu du của Chép Hồng, như đã nói, không muốn là văn học thiếu nhi thuần túy. Nó còn muốn trở thành một dạng “đồng thoại triết luận”, nơi mà câu chuyện phiêu du được dùng để tải chở những suy tư, chất vấn, đối thoại về cộng đồng, sinh thái và tương lai phát triển. Các nhân vật như bác Cá Trê, bác Cá Măng không chỉ đóng vai người hướng đạo, mà còn là những kho lưu trữ kí ức sông nước, nơi kinh nghiệm sinh tồn được trao truyền liên thế hệ. Nhờ vậy, thủy giới trong tác phẩm không tồn tại như một sân khấu ngộ nghĩnh cho trẻ em, mà vận hành như một cộng đồng có nền tảng, có lịch sử, có trí nhớ và có những quy luật tồn tại riêng.

Toàn bộ thủy giới trong tác phẩm thực chất là một mô hình xã hội thu nhỏ: có cạnh tranh, có liên minh, có di cư, có truyền thừa kinh nghiệm, có cuộc chiến sinh tử, có những cuộc tháo chạy tập thể trước hiểm họa thanh trừng, tận diệt. Khi con người xuất hiện, toàn bộ trật tự tự nhiên ấy lập tức chấn động: “Dưới lòng hồ, các loài cá và toàn bộ thủy sinh đều bị chấn động bởi cơn ‘địa chấn’ mang tên loài người”. Con người hiện đại đang trở thành hung thủ, gây chấn thương dữ dội đối với quần thế tự nhiên trù phú và hài hòa. Phía dưới những cuộc phiêu du của Chép Hồng là một cảm thức bất an sinh thái âm thầm nhưng khá rõ nét. Không gian nước trong tác phẩm vừa bao dung vừa đầy hiểm họa; mọi nơi trú ngụ đều có thể trở nên bất ổn trước biến dạng của địa cầu và sự ảo tưởng về sức mạnh chinh phục/ cải tạo của con người. 

Nhưng nếu chỉ dừng ở luận đề sinh tồn, cuốn sách dễ trở nên khô lạnh. Điều giữ cho Cuộc phiêu du của Chép Hồng vẫn mang vẻ mềm mại của đồng thoại là tinh thần cộng sinh xuyên suốt tác phẩm. Chép Hồng trưởng thành không phải bằng sức mạnh cá nhân đơn độc, mà bằng ý thức về cộng hưởng, hợp quần (như tổ chim với “những cọng rơm khô kết chặt vào nhau, thoạt nhìn tưởng mỏng manh mà lại bền chặt”), về tương trợ, đặc biệt là nâng đỡ những cá thể yếu thế, để đi xa là đi cùng nhau, không ai bị bỏ lại phía sau. Ở một tầng nghĩa rộng hơn, đây cũng là triết lí quần cư, “thuận thiên” rất Á Đông: cái tôi không tự mình cách biệt với cái ta; không cưỡng đoạt, mà hòa điệu với môi trường xung quanh.

Có thể nói, điều thú vị là khi những nghiên cứu đương đại như “thủy nhân văn học” bắt đầu nhìn nước như một cấu trúc kiến tạo bản sắc và tư duy, thì văn minh lúa nước Việt Nam từ rất sớm đã sống bằng mô thức ấy. Cuộc phiêu du của Chép Hồng, ở một nghĩa nào đó, là cuộc gặp gỡ giữa tư duy sinh thái hiện đại với “vô thức tập thể” về “cổ mẫu” nước. Tác phẩm thấp thoáng dáng dấp của một “thủy sử thi” về văn minh lúa nước Việt Nam. Toàn bộ không gian tác phẩm - hồ Cá Chéo, đầm lúa, mương nổi, vùng nước lợ, rừng ngập mặn - đều gợi nhắc rất mạnh tới cấu trúc của nền văn minh phù sa, văn minh sông nước. Chép Hồng không chỉ bơi trong nước ("từ đồng ruộng hiền hòa ra sông lớn rồi ra biển rộng”); nó đang bơi trong kí ức văn hóa Việt - thứ văn hóa mà nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu quy đồng là "văn hóa nước”: linh hoạt, mềm dẻo, ứng biến. Theo nghĩa đó, cuộc phiêu du của Chép Hồng là một cuộc phiêu du thủy sinh, đồng thời là một ẩn dụ khá điển hình cho kiểu trí tuệ tồn sinh của người Việt: không đối đầu trực diện với mọi biến động, mà học cách luồn chảy qua chúng như nước. Thích nghi trong tác phẩm không mang sắc thái thỏa hiệp, mà là một năng lực văn hóa đã được chiều dài lịch sử sông nước hun đúc. Cuốn sách, do vậy, không còn là cuộc phiêu du của riêng một cá thể, mà trở thành diễn trình của cả một cộng đồng sinh thể “đi khắp các miền sống”, thích ứng và dung nạp, sẵn sàng chung sống, đối thoại với "thế giới hoàn toàn khác biệt chưa bao giờ biết đến”.

Cuộc phiêu du của Chép Hồng và bản thể lưu động của nước - ảnh 3

Nếu “vượt vũ môn” là biểu tượng cổ điển của khát vọng hóa rồng, của huyền thoại thăng hóa cá nhân, thì “giấc mơ vượt đê” trong Cuộc phiêu du của Chép Hồng lại mang một ẩn dụ với tinh thần khai phóng, cập thời. “Vượt đê” ở đây không dừng lại ở việc vượt một giới hạn địa lí. Nó còn là cú "vươn mình” thời đại của một nền văn minh lúa nước: vượt khỏi những vòng đai trú ẩn an toàn, vượt khỏi cái ao làng quen thuộc, vượt khỏi hệ quy chiếu, tín điều xưa cũ… để sẵn sàng đối diện với biển rộng sóng to, để biết mình biết người, để tìm gặp những khả thể chân trời mới. Đây là hình ảnh giàu tính biểu tượng. Nó khiến Chép Hồng không còn là một chú cá hồn nhiên tung tăng trong đồng thoại, mà phảng phất bóng dáng của một quốc gia đang học cách bước ra bên ngoài trong kỉ nguyên mới, không quên chuyên chở kí ức của văn minh sông nước và đạo lí cộng cư. Đáng chú ý là giấc mơ “vượt đê” không xuất hiện đột ngột ở cuối tác phẩm như một khẩu hiệu nóng vội chủ quan duy ý chí. Ngay từ đầu, cấu trúc phiêu du của Chép Hồng đã được tổ chức theo xu hướng mở rộng dần không gian sống: từ hồ nhỏ ra mương nổi, từ vùng nước quen thuộc ra những miền nước khác. Vì thế, “vượt đê” thực chất là kết quả tất yếu của một bề dày tích lũy kinh nghiệm tồn sinh và khát vọng mở đường đã được âm thầm chuẩn bị, để nội lực trở thành động lực khai mở.

Sự sống mong manh, sự sống vô tận. Phạm Hồng Điệp đã không quá khích để cổ xúy "vượt đê” quá đà. Nghĩa là không vì ham thanh chuộng lạ mà bỏ lỡ cơ hội thụ hưởng những gì gần gũi quen thuộc của thì hiện tại. Phải sống quảng đại, nhưng cũng rất cần sống sâu sống kĩ. Sau những cuộc phong du hồ hải, Chép Hồng phản tỉnh: "Hóa ra lòng hồ mình đang sống còn bao điều thú vị mà chưa khám phá hết”. Câu nói giản dị nhưng mang chở tín niệm: đi không đối lập ở; mở rộng không phủ định đào sâu; vượt thoát không đồng nghĩa đoạn tuyệt căn cước; gặp đại dương không việc gì phải mặc cảm nhược tiểu.

Phía sau Chép Hồng thấp thoáng một kiểu hình tượng tác giả khá đặc biệt: không phải mẫu nhà văn lãng mạn hóa tự nhiên, mà là một chủ thể mang tư duy kiến tạo và quản trị. Vì thế, ngay cả khi viết đồng thoại, Phạm Hồng Điệp vẫn nhìn đời sống như một không gian cộng tồn vận động: ở đó mọi sinh thể đều phải học cách cân bằng giữa cạnh tranh và hợp tác, giữa phát triển và bảo tồn, giữa khát vọng đi xa và nhu cầu giữ cội nguồn. Có cảm giác Phạm Hồng Điệp không viết về nước như một đối tượng miêu tả, mà viết bằng chính tư duy của nước: mềm mại nhưng bền bỉ, phân tán nhưng liền lạc. Vì vậy đồng thoại ở đây vừa mềm vừa có tư duy cấu trúc. Cuộc phiêu du của Chép Hồng phản chiếu cơ chế vận động của kinh tế, xã hội, thị trường và cả đời sống hậu công nghiệp hôm nay.

Có lẽ điều đáng giá nhất thuộc về cuộc phiêu du của Chép Hồng không nằm ở giấc mơ hóa rồng, mà ở việc học minh triết của nước: biết biến dịch mà không đánh mất bản thể; biết đổi dòng mà vẫn liền lòng.

Trong một thời đại mà chúng ta ngày càng xa tự nhiên, điều văn chương cần làm không phải là kể những câu chuyện đèm đẹp, mà là giúp con người học lại khả năng lắng nghe tiếng động âm thầm, phơi mở "bí mật của nước”, ấp iu "phúc lành của đất”, và của mọi sinh thể đang cùng mình hiện diện bình đẳng trên "sân chầu vũ trụ” này. Có lẽ giá trị sâu nhất của Cuộc phiêu du của Chép Hồng nằm ở đó: không dạy trẻ em cách chiến thắng thế giới, mà dạy con người học lại cách sống cùng thế giới.