Cục Hải quan cho biết, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý Thuế, ngoài những nội dung kế thừa quy định tại Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã thực hiện ổn định, Nghị định số 252/2025/NĐ-CP có những nội dung mới (sửa đổi, bổ sung) liên quan đến cơ quan Hải quan, như sau:
Về khai thuế, khoản thu khác đối với hoạt động dầu khí và bán dầu khí (Điều 13): Bổ sung quy định về việc tạm nộp và kê khai điều chỉnh thuế xuất khẩu dầu khí trong trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan chưa có giá chính thức, bảo đảm thống nhất giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật hải quan. Việc sửa đổi, bổ sung quy định này nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về khai, nộp thuế đối với hoạt động dầu khí.
Về Các trường hợp cơ quan Hải quan tính thuế, khoản thu khác và thông báo nộp thuế, khoản thu khác (Điều 19): Để đơn giản hóa thủ tục hành chính, Nghị định đã sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp cơ quan Hải quan tính thuế, thông báo thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại Điều 19 theo hướng bỏ quy định về việc thông báo thuế đối với trường hợp ấn định thuế.
Về thời hạn nộp thuế, thời gian gia hạn nộp thuế (Điều 25): Sửa đổi quy định về thời điểm tính thời gian gia hạn nộp thuế: đối với trường hợp bị thiên tai, thảm họa, sự kiện bất khả kháng, thời gian gia hạn là 02 năm kể từ ngày xảy ra sự kiện; đối với trường hợp phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, thời gian gia hạn là 01 năm kể từ ngày người nộp thuế phải ngừng hoạt động.
Về thời gian tính tiền chậm nộp (Điều 26): Bổ sung quy định thời gian tính tiền chậm nộp đối với khoản thu hồi miễn thuế, giảm thuế được tính liên tục từ ngày có Quyết định hoặc Thông báo miễn thuế, giảm thuế đến ngày liền kề trước ngày người nộp thuế nộp số tiền thu hồi vào ngân sách nhà nước; Sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp không tính tiền chậm nộp đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
Về hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế (Điều 27): Bổ sung quy định doanh nghiệp sau chuyển đổi loại hình được kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trước chuyển đổi, bao gồm số thuế phải nộp, số thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ và số thuế nộp thừa, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật Quản lý thuế năm 2025.
Bổ sung quy định về xử lý nghĩa vụ thuế đối với trường hợp người nộp thuế là cá nhân đã được xóa nợ do bị Tòa án tuyên bố đã chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhưng sau đó có quyết định hủy bỏ của Tòa án, theo đó cơ quan quản lý thuế thực hiện phục hồi số tiền thuế nợ đã được xóa để tiếp tục quản lý và thu hồi theo quy định.
Bổ sung quy định về trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc thông báo nghĩa vụ thuế chưa hoàn thành và áp dụng các biện pháp đôn đốc, cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân kế thừa nghĩa vụ thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Về tạm hoãn xuất cảnh (Điều 28): Nghị định số 252/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh theo hướng rút ngắn thời gian xử lý và bổ sung cơ chế tháo gỡ vướng mắc khi dữ liệu nộp thuế chưa được cập nhật trên hệ thống nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế; mở rộng điều kiện hủy bỏ tạm hoãn xuất cảnh, tạo thuận lợi cho người nộp thuế; điều chỉnh quy định về tạm hoãn xuất cảnh theo hướng tạo điều kiện cho người nộp thuế khắc phục vi phạm.
Về hoàn thuế (Điều 29, 30, 31): Nghị định sửa đổi theo hướng quy định thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế: chậm nhất là 10 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan Hải quan ban hành kết luận kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, cơ quan Hải quan có quyết định hoàn thuế hoặc thông báo hồ sơ đề nghị hoàn thuế chưa đủ điều kiện hoàn thuế.
Bỏ quy định về việc chuyển loại hồ sơ từ hoàn thuế trước sang kiểm tra trước đối với trường hợp hồ sơ hoàn thuế thuộc trường hợp hoàn thuế trước nhưng hết thời hạn theo thông báo bằng văn bản của cơ quan quản lý thuế mà người nộp thuế không giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế hoặc có giải trình, bổ sung hồ sơ hoàn thuế nhưng không chứng minh được số tiền thuế đã khai là đúng.
Về khoanh tiền thuế nợ (Điều 34): Bổ sung quy định không khoanh tiền thuế nợ đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh đã chấm dứt hoạt động nhưng doanh nghiệp, tổ chức chủ quản vẫn đang hoạt động, nhằm bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với các khoản nợ thuế của đơn vị phụ thuộc đã chấm dứt hoạt động; Sửa đổi quy định về thời gian khoanh tiền thuế nợ, theo đó thời gian khoanh nợ được tính từ ngày cơ quan quản lý thuế ban hành quyết định khoanh nợ.
Về xóa tiền thuế nợ (Điều 35): UBND cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định xóa nợ đối với các khoản tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng khu vực biển, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, tiền thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và tiền chậm nộp phát sinh từ các khoản nợ này. Bổ sung thẩm quyền xóa nợ cho Chi cục trưởng Chi cục Hải quan khu vực; Chi cục trưởng Chi cục Điều tra chống buôn lậu và Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan.
Quy định chung về cưỡng chế (Điều 65):Bổ sung quy định chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức có số tiền thuế nợ dưới 3 triệu đồng, hộ kinh doanh, cá nhân có số tiền thuế nợ dưới 1 triệu đồng, trừ trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.
Về hiệu lực của quyết định cưỡng chế: quy định thống nhất quyết định cưỡng chế có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Quyết định cưỡng chế sẽ được chấm dứt hiệu lực khi người nộp thuế nộp đủ số tiền thuế nợ bị cưỡng chế hoặc thuộc trường hợp chấm dứt theo quy định.
Về cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản (Điều 66): Sửa đổi quy định về các loại tài khoản ngân hàng không thực hiện cưỡng chế, gồm: tài khoản nhận kinh phí bảo trì nhà chung cư theo quy định của pháp luật về nhà ở; tài khoản là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng; tài khoản quỹ bình ổn giá xăng dầu theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu.
Về cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (Điều 67): Bỏ quy định cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu cho các đối tượng này; Sửa đổi quy định áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ tiền lương đối với người lao động có hợp đồng từ 06 tháng xuống 03 tháng, bảo đảm thống nhất với quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động có hợp đồng từ 03 tháng trở lên.
Về cưỡng chế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 68): Bỏ quy định về tạm dừng áp dụng biện pháp cưỡng chế dừng làm thủ tục hải quan đối với người nộp thuế để cắt giảm thủ tục hành chính.
Về cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản khác của người nộp thuế bị cưỡng chế do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (cưỡng chế bên thứ ba) (Điều 70): Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba theo hướng cho phép áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế đối với bên thứ ba khi cơ quan quản lý thuế có đủ căn cứ xác định bên thứ ba đang có khoản nợ hoặc đang nắm giữ tiền, tài sản của người nộp thuế bị cưỡng chế.
Sửa đổi quy định về trách nhiệm của bên thứ ba theo hướng trường hợp bên thứ ba không thực hiện nộp thay cho người nộp thuế hoặc không chuyển giao tài sản thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại khoản 4 Điều 46 Luật Quản lý thuế.
Về cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên (Điều 71): Sửa đổi quy định về trình tự áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo hướng cho phép áp dụng ngay biện pháp này khi cơ quan quản lý thuế có đủ căn cứ và thông tin hợp pháp về tài sản thuộc sở hữu của người nộp thuế bị cưỡng chế.
Về cưỡng chế bằng biện pháp nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản (Điều 72): Đây là biện pháp cưỡng chế mới được quy định tại Luật Quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế nộp đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc một trong các điều kiện sau: (i) Không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký quá 03 năm kể từ ngày cơ quan thuế ban hành thông báo người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký và người nộp thuế không nộp hồ sơ đề nghị khôi phục mã số thuế hoặc chấm dứt hiệu lực mã số thuế; (ii) Cơ quan quản lý thuế đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó trong thời gian từ 03 năm trở lên nhưng không thu được tiền thuế nợ.
Về cưỡng chế bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác, giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, giấy chứng nhận đăng ký địa điểm kinh doanh, đăng ký hoặc yêu cầu chấm dứt xác nhận thông báo, đăng ký hoạt động thương mại điện tử (Điều 73):
Quy định rõ các trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, gồm: (i) người nộp thuế đã bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó từ 03 năm trở lên nhưng vẫn không thu được tiền thuế nợ (trừ doanh nghiệp, hợp tác xã đã nộp đơn đề nghị phá sản); (ii) tổ chức, cá nhân nước ngoài đăng ký kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử tại Việt Nam; (iii) trường hợp Tòa án trả lại đơn yêu cầu hoặc quyết định không mở thủ tục phá sản.
Nghị định số 252/2026/NĐ-CP bổ sung quy định chuyển tiếp về phục hồi số tiền thuế nợ đã được xóa, theo đó giao Thủ trưởng cơ quan Thuế hoặc cơ quan Hải quan trực tiếp quản lý người nộp thuế quyết định phục hồi đối với các khoản nợ thuế đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xóa trước đây nhưng sau đó thuộc trường hợp phải hoàn trả theo quy định của Luật Quản lý thuế năm 2025.