75% lợi nhuận sau thuế nằm trong tay nhóm vốn hóa lớn

Mùa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 đã phác họa khá rõ một nghịch lý trên thị trường chứng khoán. Bên cạnh lợi nhuận doanh nghiệp nhìn chung tăng trưởng tích cực, thì thành quả chủ yếu chỉ tập trung ở những doanh nghiệp có quy mô vốn hóa lớn.

Theo thống kê từ báo cáo tài chính quý II/2026 của 396 doanh nghiệp trên HOSE đã công bố kết quả kinh doanh, có 366 doanh nghiệp có lãi và 30 doanh nghiệp thua lỗ. Tổng lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 220.000 tỷ đồng. Đặc biệt, 30 doanh nghiệp thuộc rổ VN30 đóng góp khoảng 165.000 tỷ đồng, tương đương 75% tổng lợi nhuận của nhóm doanh nghiệp nói trên.

Ảnh minh hoạ
Ảnh minh hoạ

Như vậy, chưa tới 8% số doanh nghiệp trong tập hợp này đang tạo ra khoảng ba phần tư lợi nhuận. Phần còn lại, hơn 90% doanh nghiệp, chia nhau khoảng 25% lợi nhuận. Đây không phải là hiện tượng chỉ xuất hiện trong một quý. Tỷ trọng lợi nhuận của VN30 trong quý II gần như đi ngang so với quý I/2026, khi nhóm này đóng góp khoảng 75,4%. Nếu nhìn xa hơn, mức 75% hiện tại đã cao hơn đáng kể so với đáy khoảng 67% trong quý III/2025.

Trong 12 quý gần nhất, tỷ trọng lợi nhuận của VN30 dao động trong khoảng 67-79% tổng lợi nhuận toàn HOSE. Điều này cho thấy quá trình tập trung lợi nhuận vào nhóm doanh nghiệp đầu ngành không phải diễn biến nhất thời mà đang trở thành một đặc điểm ngày càng rõ của thị trường. Tổng lợi nhuận của VN30 trong quý II tăng khoảng 25.000 tỷ đồng so với quý trước, tương đương 17,9%. Tuy nhiên, phần tăng thêm này lại tập trung đáng kể vào một vài cái tên.

Riêng Vingroup và Vietcombank đã đóng góp hơn 14.200 tỷ đồng vào mức tăng lợi nhuận của VN30, tương đương gần 57%. Vingroup ghi nhận 14.764 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế trong quý II, cao gấp 2,6 lần quý I. Theo báo cáo tài chính hợp nhất, kết quả này được hỗ trợ đáng kể bởi khoản lãi gần 15.882 tỷ đồng từ thanh lý các khoản đầu tư tài chính và chuyển nhượng công ty con.

Trong khi đó, Vietcombank ghi nhận 14.551 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng 53,8% so với quý I. Thu nhập lãi thuần tăng khoảng 35%, lên gần 19.142 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm xuống khoảng 503 tỷ đồng.

Nếu xét về quy mô lợi nhuận tuyệt đối, Vinhomes mới là doanh nghiệp đứng đầu nhóm VN30 trong quý II với 26.466 tỷ đồng, gần gấp đôi mức lợi nhuận của công ty mẹ Vingroup. Dù vậy, lợi nhuận Vinhomes chỉ tăng 3,3% so với quý trước.

Ở nhóm có tốc độ tăng trưởng nổi bật, GAS và Masan ghi nhận lợi nhuận quý II khoảng gấp đôi quý trước. Ngược lại, Vietjet chứng kiến lợi nhuận giảm 65,9%, xuống còn 349 tỷ đồng.

Hòa Phát cũng ghi nhận lợi nhuận giảm mạnh về số tuyệt đối, từ 9.056 tỷ đồng trong quý I xuống 6.424 tỷ đồng trong quý II. Nhưng đây chủ yếu là ảnh hưởng của nền so sánh cao. Trong quý I, Hòa Phát từng ghi nhận khoản lãi ngoài ngành khoảng 3.800 tỷ đồng từ chuyển nhượng một phần dự án bất động sản tại Phố Nối, Hưng Yên. Khoản thu nhập này không lặp lại trong quý II, trong khi sản lượng thép vẫn duy trì tăng trưởng.

Phía sau con số lợi nhuận là khoảng cách về chi phí vốn

Sự tập trung lợi nhuận vào nhóm vốn hóa lớn không chỉ phản ánh lợi thế về quy mô. Nó còn cho thấy sự khác biệt đáng kể về sức khỏe tài chính và khả năng hấp thụ chi phí vốn giữa các nhóm doanh nghiệp.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Tổng giám đốc Dragon Capital Việt Nam, năm 2026 có thể là một trong những năm lợi nhuận doanh nghiệp tăng trưởng tốt nhất trong khoảng một thập kỷ. Mức tăng trưởng này có sự phân hóa rõ rệt giữa doanh nghiệp vốn hóa lớn và nhóm vốn hóa nhỏ.

Một ví dụ được ông Tuấn đưa ra nằm ở chi phí lãi vay. Với mỗi 100 đồng lợi nhuận trước lãi vay và thuế, doanh nghiệp vốn hóa lớn chỉ mất khoảng 10 đồng để trả lãi vay. Trong khi đó, con số này ở nhóm vốn hóa nhỏ lên tới khoảng 30 đồng.

Khoảng cách này có ý nghĩa lớn trong môi trường lãi suất còn tương đối cao. Khi chi phí vốn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong lợi nhuận tạo ra từ hoạt động kinh doanh, khả năng chuyển hóa tăng trưởng doanh thu thành lợi nhuận ròng của doanh nghiệp nhỏ sẽ bị hạn chế.

Nói cách khác, cùng hưởng lợi từ một chu kỳ kinh tế thuận lợi, doanh nghiệp đầu ngành có thể giữ lại phần lớn thành quả tăng trưởng, trong khi doanh nghiệp quy mô nhỏ phải dành một phần đáng kể lợi nhuận để trả chi phí tài chính.

Đây cũng là lý do bức tranh lợi nhuận của HOSE cần được nhìn ở cả hai chiều. Một mặt, tổng lợi nhuận tăng mạnh cho thấy sức khỏe của khu vực doanh nghiệp niêm yết đang cải thiện. Mặt khác, việc lợi nhuận tập trung quá cao vào một nhóm nhỏ cho thấy sự phục hồi chưa đồng đều.

Lợi nhuận trên HOSE: Tăng mạnh nhưng phân hóa sâu - ảnh 2

30 doanh nghiệp thua lỗ: Không chỉ là những cái tên nhỏ

Ở chiều ngược lại, 30 doanh nghiệp thua lỗ trong số 396 doanh nghiệp đã công bố báo cáo tài chính quý II cho thấy quá trình phục hồi của thị trường vẫn còn những khoảng tối.

Một số trường hợp đáng chú ý đã được công bố trong mùa báo cáo năm nay. Trong đó, PNJ là trường hợp đặc biệt gây chú ý khi doanh nghiệp vốn thuộc nhóm VN30 lần đầu tiên sau khoảng 5 năm ghi nhận một quý thua lỗ. Quý II, PNJ lỗ sau thuế 283 tỷ đồng dù doanh thu đạt gần 8.484 tỷ đồng, tăng 11,9% so với cùng kỳ. Nguyên nhân quan trọng đến từ khoản trích lập dự phòng 865 tỷ đồng liên quan đến nghĩa vụ mua lại kim cương, vàng.

Trường hợp PNJ cho thấy không phải cứ doanh thu tăng là lợi nhuận cũng tăng. Với những doanh nghiệp có quy mô lớn, một khoản dự phòng hoặc chi phí bất thường đủ lớn cũng có thể đảo chiều kết quả kinh doanh trong một quý.

Trong nhóm bất động sản, DRH Holdings tiếp tục ghi nhận lỗ trước thuế khoảng 13 tỷ đồng trong quý II, nâng mức lỗ 6 tháng lên khoảng 37 tỷ đồng. TCR cũng tiếp tục lỗ khoảng 5 tỷ đồng trong quý II, trong khi lũy kế 6 tháng còn lỗ khoảng 26 tỷ đồng.

Ở lĩnh vực hạ tầng, SII ghi nhận lỗ trước thuế khoảng 5 tỷ đồng trong quý II, trái ngược với mức lãi 34 tỷ đồng cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng doanh nghiệp lỗ khoảng 12 tỷ đồng.

Saigonbank cũng rơi vào trạng thái thua lỗ trong quý II với khoản lỗ trước thuế khoảng 40 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước lãi 76,4 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng, ngân hàng vẫn có lãi trước thuế khoảng 48 tỷ đồng nhưng giảm 72,4% so với cùng kỳ.

Danh sách các trường hợp thua lỗ còn xuất hiện ở nhiều ngành khác. Vinasun ghi nhận lỗ hơn 20 tỷ đồng trong quý II; Doanh nghiệp vận tải - xây dựng tại Bình Dương lỗ gần 8 tỷ đồng; Sợi Thế Kỷ lỗ hơn 38 tỷ đồng và Quốc tế Hoàng Gia lỗ hơn 9 tỷ đồng.

Những trường hợp này cho thấy thua lỗ không tập trung vào một ngành duy nhất. Áp lực xuất hiện từ bất động sản, sản xuất, vận tải,... đến những doanh nghiệp có vấn đề riêng về chi phí hoặc dự phòng.

Ngoài ra, một số doanh nghiệp không chỉ gặp vấn đề trong một quý mà còn mang theo khoản lỗ lũy kế lớn. Đây không còn đơn thuần là kết quả kinh doanh nhất thời mà liên quan trực tiếp tới khả năng phục hồi bảng cân đối kế toán. Vì vậy, khi đánh giá 30 doanh nghiệp thua lỗ trên HOSE, cần phân biệt giữa hai nhóm: doanh nghiệp lỗ do yếu tố bất thường, mang tính thời điểm và doanh nghiệp đang đối mặt với vấn đề kinh doanh hoặc tài chính kéo dài.

PNJ là ví dụ tương đối điển hình của nhóm thứ nhất khi khoản lỗ quý II gắn với một khoản dự phòng lớn, trong khi hoạt động kinh doanh vẫn tạo ra doanh thu đáng kể. Mặt khác, những doanh nghiệp liên tục lỗ và có lỗ lũy kế lớn sẽ chịu áp lực lớn hơn về vốn, thanh khoản và khả năng tiếp cận tín dụng.

Nhìn tổng thể, bức tranh quý II/2026 trên HOSE không đơn thuần chỉ là lợi nhuận tăng hay doanh nghiệp phục hồi, mà nó còn nằm ở cấu trúc của mức tăng trưởng.

366 doanh nghiệp có lãi là tín hiệu tích cực. Tổng lợi nhuận khoảng 220.000 tỷ đồng cũng cho thấy quy mô lợi nhuận của khu vực doanh nghiệp niêm yết đang ở mức cao. Nhưng việc 30 doanh nghiệp VN30 tạo ra khoảng 75% tổng lợi nhuận lại cho thấy sức mạnh kiếm tiền đang tập trung rất cao vào nhóm vốn hóa lớn.

Ở phía đối diện, 30 doanh nghiệp thua lỗ phản ánh phần còn lại của thị trường vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi những vấn đề về chi phí vốn, thanh khoản, và hiệu quả kinh doanh.

Sự phân hóa này có thể tiếp tục trở thành đặc điểm quan trọng của thị trường trong nửa cuối năm. Khi lãi suất, tỷ giá, chi phí vốn và sức mua vẫn là những biến số cần theo dõi, doanh nghiệp có bảng cân đối lành mạnh, dòng tiền tốt và vị thế đầu ngành sẽ có nhiều dư địa hơn để tận dụng chu kỳ tăng trưởng. Mặt khác, với nhóm doanh nghiệp nhỏ, mỗi đồng doanh thu tăng thêm chưa chắc chuyển thành lợi nhuận tương ứng nếu chi phí tài chính vẫn ở mức cao.