Từ nhà trí thức yêu nước đến doanh nhân dân tộc
Sinh năm 1904 tại làng Noi (Hà Nội), ông Đỗ Đình Thiện trưởng thành trong một gia đình có bốn người con. Cha mất sớm, ông được mẹ nuôi dưỡng và sớm bộc lộ tư chất thông minh, ham học. Năm 1926, ông tham gia phong trào bãi khóa để tang nhà yêu nước Phan Chu Trinh và bị đuổi học. Năm 1927, ông sang Pháp du học tại trường đại học canh nông ở Toulouse. Một năm sau, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp, tham gia hoạt động cách mạng và bị bắt vào cuối năm 1931 vì chuyển tài liệu bí mật của Đảng. Ông bị kết án 4 tháng tù và trục xuất về nước.
Trở lại Việt Nam, ông kết hôn với bà Trịnh Thị Điền - một nữ cộng sản tiền bối. Khi cả ông và vợ đều bị kiểm soát, theo dõi gắt gao, Trung ương đồng ý để hai ông bà chuyển hướng hoạt động sang lĩnh vực kinh tế. Mục đích là vừa nuôi sống gia đình, vừa tạo nguồn lực hỗ trợ cách mạng khi cần thiết. Từ đó, thương trường trở thành một mặt trận mới để vợ chồng ông Đỗ Đình Thiện tiếp tục thực hiện lý tưởng của mình.
Ông Đỗ Đình Thiện chung vốn với bạn bè buôn gỗ, trong khi bà Trịnh Thị Điền nhận tơ tằm từ các thương nhân người Hoa để bán kiếm lời. Nhờ làm ăn chân chính, giữ chữ tín với cả người bán lẫn người mua, ông bà dần tạo dựng được uy tín trên thị trường cùng tiệm tơ Cát Lợi ở 54 Hàng Gai (Hà Nội), nhà máy dệt Gia Lâm (Hà Nội), đồn điền Chi Nê (Hòa Bình)...
Cống hiến cả gia sản và năng lực cho đất nước
Từ trước Cách mạng tháng Tám, vợ chồng ông Đỗ Đình Thiện đã nhiều lần hỗ trợ tài chính cho Đảng. Năm 1943, khi quỹ của Trung ương Đảng chỉ còn 24 đồng Đông Dương, gia đình ông đã đóng góp 3 vạn đồng để hỗ trợ hoạt động cách mạng. Đến đầu năm 1945, bà Điền tiếp tục gửi cho ngân sách thêm 10 vạn đồng Đông Dương.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền cách mạng được thành lập. Để giải quyết vấn đề tài chính trước mắt, Chính phủ cách mạng đã ban hành Sắc lệnh số 4, ngày 4/9/1945 lập Quỹ Độc lập và phát động Tuần lễ Vàng. Ông Đỗ Đình Thiện được giao nhiệm vụ phụ trách Quỹ Trung ương ở Hà Nội. Bản thân ông bà đã đóng góp 100.000 đồng Đông Dương và 100 lạng vàng. Trong ngày bế mạc Tuần lễ Vàng, ông bà còn mua đấu giá bức tranh của họa sỹ Nguyễn Sáng vẽ chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh với giá 1 triệu đồng rồi sau đó tặng lại Ủy ban Hành chính Hà Nội.
Lúc mới giành được chính quyền, Nhà nước chưa có bộ phận lễ tân chuyên trách do vậy việc tiếp các vị khách đặc biệt được giao cho một số gia đình có điều kiện ở Hà Nội. Ngôi nhà ở 54 Hàng Gai của gia đình ông bà trở thành "nhà khách" của Chính phủ.
Không dừng lại ở đó, thấu hiểu việc chính quyền cách mạng cần phải có máy in tiền để giải quyết những khó khăn lớn về tài chính, vợ chồng doanh nhân đã bỏ tiền mua Nhà máy in Taupin của người Pháp, biếu tặng Chính phủ.
Giữa năm 1946, chính phủ Pháp mời Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Cộng hòa Pháp. Ông Đỗ Đình Thiện được cử làm thư ký riêng tháp tùng Bác.
Tháng 11/1946, tình hình Hà Nội ngày càng căng thẳng, để bảo vệ việc in tiền, đồng chí Phạm Văn Đồng ra lệnh tháo dỡ, vận chuyển toàn bộ máy móc của nhà máy di chuyển lên đồn điền Chi Nê. Tờ giấy bạc 100 đồng (tờ bạc con trâu xanh) đã ra đời tại đây. Sau này, ông bà đã giao lại đồn điền Chi Nê cho Ban Kinh - Tài của Đảng quản lý, đồng thời đóng góp gần nửa cổ phần để xây dựng Việt Nam công thương Ngân hàng (tiền thân của Ngân hàng quốc gia Việt Nam).
Tháng 2/1947, đồn điền Chi Nê bị Pháp oanh tạc, cả gia đình ông bà Đỗ Đình Thiện chuyển lên Chiến khu Việt Bắc, tham gia kháng chiến. Thời gian từ năm 1947-1953, ông đảm nhận các công tác như Giám đốc trưởng Nhà máy Cơ khí Trần Hưng Đạo, Trưởng phòng Quỹ Ngân hàng Quốc gia Việt Nam... nhưng ông tình nguyện không nhận lương. Ông mong muốn không chỉ dành tài sản cho cách mạng, mà còn trực tiếp tham gia công việc bằng năng lực và kinh nghiệm của mình.
Hòa bình lập lại, ông Đỗ Đình Thiện cùng gia đình sống tại nhà riêng ở 76 Nguyễn Du (Hà Nội) và ông tham gia Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1956 cho đến lúc mất, ngày 2/1/1972.
Những phần thưởng cao quý dành cho vợ chồng nhà tư sản dân tộc
Những đóng góp của vợ chồng doanh nhân Đỗ Đình Thiện cho cách mạng đã được Nhà nước ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý. Năm 1950, ông bà cùng được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, do Chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân trao tặng. Đây là một trong hai trường hợp vào thời điểm đó cả hai vợ chồng đều được nhận phần thưởng này.
Năm 1991, bà Trịnh Thị Điền được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Năm 2008, ông Đỗ Đình Thiện được truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh. Vào năm 2009, ông bà được truy tặng Kỷ niệm chương “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.
Ngoài ra, ông bà còn được trao tặng nhiều phần thưởng khác như Huy chương "Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân", Huy chương "Vì sự nghiệp tài chính của Đảng", Huy chương "Vì sự nghiệp Giải phòng phụ nữ"...
Những di sản mà gia đình để lại cũng được lưu giữ trong ký ức lịch sử dân tộc. Năm 2007, địa điểm nhà máy in tiền tại đồn điền Chi Nê, nơi phục vụ cách mạng trong giai đoạn 1946–1947, được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia.
Đến năm 2014, một tuyến phố ở quận Nam Từ Liêm đã được đặt tên theo ông Đỗ Đình Thiện, như một cách nhắc nhớ các thế hệ sau về người doanh nhân đã dành cả tài sản và tâm sức cho đất nước.
Nhưng có lẽ, vượt lên trên những phần thưởng và sự ghi danh, điều khiến câu chuyện về gia đình doanh nhân Đỗ Đình Thiện trở nên đặc biệt chính là tình cảm mà họ nhận được. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói về gia đình ấy: “Gia đình ấy với mình chỉ là một”. Lời nói giản dị mà sâu nặng ấy không chỉ thể hiện sự gắn bó, tin cậy giữa Hồ Chủ tịch với gia đình doanh nhân họ Đỗ, mà còn gợi nhắc về một mối quan hệ được vun đắp bằng lòng yêu nước, sự tận tâm và những lựa chọn trong thời khắc đất nước cần đến mỗi người. Với ông bà Đỗ Đình Thiện, cơ nghiệp gây dựng bằng mồ hôi và trí tuệ cuối cùng đã tìm thấy ý nghĩa lớn lao nhất khi trở thành một phần trong sự nghiệp chung của dân tộc.