Ngày nay, mang theo di sản tự hào ấy, giới doanh nhân Việt đang tiếp tục gánh vác sứ mệnh của kỷ nguyên mới: đưa nền kinh tế hội nhập sâu rộng, tiên phong trong đổi mới và kiến tạo một tương lai phát triển bền vững, vươn tầm toàn cầu.
Cách đây hơn hai thập kỷ, tôi đã viết về doanh nhân Việt Nam với chủ đề “Từ doanh nhân đến danh nhân”. Nay xin được nhắc lại để mỗi doanh nhân dân tộc Việt Nam thấy được một hành trình vươn dậy và để giữ được phẩm chất cao quý của doanh nhân dân tộc Việt Nam chúng ta.
Trong sự bừng tỉnh để nhận ra vấn đề thương hiệu có quan hệ như thế nào đối với một nền kinh tế hàng hóa, người ta lục tìm trong lịch sử xem đã từng có cái gì tương tự hay không? Thì truyền thuyết chẳng từng kể chuyện chàng rể của Vua Hùng là Mai An Tiêm bị đày ra hoang đảo đã lập “trang trại” trồng dưa hấu. Chàng đã khắc tên của mình lên vỏ những trái dưa rồi đem thả xuống biển cả để những con sóng đưa sản phẩm của mình ra bốn phương và về đất liền, vừa để “tiếp thị” mời gọi các thương lái đến đảo mua dưa, vừa để vua cha biết đến sự thành công của vợ chồng mình. Phải chăng đó là thương hiệu đầu tiên xuất hiện trong truyền thuyết?
Nếu coi thương hiệu là một thứ tín chỉ ghi trên sản phẩm, ở di tích cố đô Hoa Lư thời nhà Đinh, ta vẫn còn tìm thấy nhiều viên gạch lớn có khắc dòng chữ “Đại Việt Quốc quân thành chuyên”. Phải chăng đó là những thương hiệu đầu tiên trên sản phẩm còn lưu lại đến nay trong các bảo tàng?
Một thời gian dài chúng ta ngỡ rằng nước Việt Nam chỉ có nền sản xuất thuần nông, quẩn quanh với đồng ruộng, làng xã, sống trong quan niệm trọng nông ức thương. Nhưng những phát hiện khảo cổ học trong những năm gần đây khiến ta phải suy nghĩ lại. Hàng chục vạn sản phẩm gốm sản xuất tại Việt Nam trên những con tàu đắm được khai quật cho thấy, ở thế kỷ XV-XVII, Đại Việt đã từng là một trung tâm sản xuất hàng gốm xuất khẩu, tên gọi vùng Chu Đậu (Hải Dương) ứng với các di chỉ có dấu tích các lò gốm là bằng chứng của một trình độ sản xuất hàng hóa chất lượng của nước ta ở những thế kỷ xa xưa ấy…
Đặc biệt nữa là, trên những sản phẩm gốm người ta đã tìm thấy cho chúng ta nhiều thông tin quý báu, trong đó có những yếu tố đang được coi là thương hiệu. Đó là tên tuổi những người tham gia tạo ra sản phẩm. Đặc sắc và xưa nhất phải nói đến một chiếc lọ gốm vẽ hoa dây màu lam hiện trưng bày tại Bảo tàng Topkapi Saray ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), ghi rõ dòng chữ niên đại sản xuất: "Năm Thái Hòa thứ tám" (tức 1450 dưới thời Lê Nhân Tông), địa điểm sản xuất (Nam Sách - Hải Dương) và đặc biệt là người sản xuất: "Bùi thị hý bút" (người họ Bùi vẽ chơi)... Muộn hơn một chút, ngày nay còn nhiều sản phẩm có chất lượng cao ghi rõ tên nghệ nhân, tiêu biểu nhất là Đặng Huyền Thông cũng ở lò gốm vùng Nam Sách thời Mạc v.v... Tên các nghệ nhân được lưu lại trên các sản phẩm gốm như dấu ấn của con người, là phần hồn tạo nên một thương hiệu và cùng với tên người ấy là vùng đất làm ra sản phẩm như một đặc hiệu tạo nên giá trị thương phẩm như Chu Đậu (Hải Dương), Bát Tràng (Bắc Ninh), Gò Sành (Bình Định) v.v...
Cho đến giữa thế kỉ XIX, thương hiệu đầu tiên không còn gắn với tên một con người cụ thể mà nêu lên một ý tưởng của sự kinh doanh. Đó là tên "Cảm Hiếu Đường" đặt cho một cửa hiệu chụp ảnh đầu tiên mở tại Hà Nội vào năm 1869 mà chủ hiệu là một nhà canh tân hàng đầu khi đó: Đặng Huy Trứ... Qua thời cận đại, trong bối cảnh thuộc địa đã xuất hiện trong các thương hiệu nổi danh nhất ở đầu thế kỷ XX, những tư tưởng duy tân của thời kỳ người Việt Nam muốn gắn kết sự làm giàu với thân phận của người dân mất nước nung nấu tinh thần dân tộc và chí hướng cứu nước. Những tên gọi như "Minh Tân Công nghệ xã", "Minh Tân Khách sạn" của những nhà duy tân ở Nam Kỳ như Trần Chánh Chiếu; thương hiệu "Cô Ba" in hình một khuôn mặt phụ nữ điển hình của Nam Kỳ trên những bánh xà phòng, là sản phẩm của một trong những người bản xứ giàu có nhất ở đồng bằng sông Cửu Long hồi đó: Trương Văn Bền.... Còn ở ngoài Bắc, lá cờ vàng với hình mỏ neo và ba ngôi sao đỏ của "Giang Hải Luân thuyền Bạch Thái Công ty" đã từng một thời tung bay trên các con tàu của Bạch Thái Bưởi... dọc ngang sông nước đồng bằng Bắc Bộ và miền duyên hải. Đặc biệt, với con tàu mang tên "Bình Chuẩn" (tên gọi cơ quan chuyên lo việc kinh doanh của nhà nước truyền thống) trọng tải 600 tấn do chính những kỹ sư và thợ cả Việt Nam đóng, từ Hải Phòng đã vượt biển vào tận Sài Gòn năm 1919 được coi là đỉnh cao của niềm tự hào cho các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mất nước.
Công cuộc canh tân đất nước đầu thế kỷ XX, sự khởi đầu cách nay hơn trăm năm là sự kết hợp giữa hai yếu tố giáo dục và kinh doanh, nhằm tìm ra nguồn lực cứu nước sau những thất bại cay đắng của những lớp người chỉ biết "sát thân thành nhân" hay "thề cùng bạch quỷ có tao không mày...". Lương Văn Can, vị thục trưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục, đồng thời cũng là người nung nấu tư tưởng gây dựng "đạo làm giàu", là người đầu tiên viết sách cổ vũ và hướng dẫn cách buôn bán, tổ chức doanh nghiệp làm giàu để cứu nước thoát khỏi ách đô hộ của ngoại bang.
Xin dẫn ra ở đây một đoạn đánh giá của Lương Văn Can về thực trạng hoạt động kinh doanh của giới doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ, đủ thấy sự tinh tế và tầm nhìn của cụ không chỉ đối với những vấn nạn ở một thế kỷ trước đây mà những di sản của nó vẫn vấn vương lâu dài trong tâm tính làm ăn kinh tế của người nước ta.
Trong sách "Thương học phương châm", cụ Cử Lương Văn Can cổ xúy: "Đương buổi thế giới cạnh tranh này, các nước phú cường không đâu là chẳng đua tài thi sức ở trong trường thương chiến, văn minh càng tiến bộ, buôn bán càng thịnh đạt. Việc buôn bán thịnh suy có quan hệ đến quốc dân thịnh suy như thế, ta há coi thường, xem khinh được sao?". Vậy mà nền kinh doanh ở nước ta vẫn còn là một thảm cảnh bởi 10 lẽ như Lương Văn Can tổng kết:
1. Người mình không có thương phẩm;
2. Không có thương hội;
3. Không có tín thực;
4. Không có kiên tâm;
5. Không có nghị lực;
6. Không biết trọng nghề;
7. Không có thương học;
8. Kém đường giao thiệp:
9.Không biết tiết kiệm;
10. Khinh nội hóa!...
Trong hoàn cảnh mất nước, bị thực dân đô hộ ấy, những doanh nhân Việt Nam mạnh mẽ như Bạch Thái Bưởi cuối cùng cũng phải chấp nhận một kết cục bi đát: phá sản.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 mở ra một kỷ nguyên mới cho sự phát triển của nước Việt Nam độc lập. Doanh nhân Việt Nam tuy không có vị thế xứng đáng và không có bề dày truyền thống trong lịch sử nhưng lại có những thời khắc thật đáng tự hào. Ngày Bác Hồ từ chiến khu về Hà Nội, vị lãnh tụ cách mạng đã chọn nơi cư trú ở nhà một người thuộc hàng giàu nhất tại một phố giàu nhất Hà Nội, đó là ngôi nhà 48 Phố Hàng Ngang của gia đình vợ chồng nhà tư sản Trịnh Văn Bô và Hoàng Thị Minh Hồ. Đặt lợi ích dân tộc lên cao hơn trên hết, hơn hai mươi năm trước ngày cách mạng thành công, Bác đã nói đến một cao trào giải phóng dân tộc tập hợp được mọi lực lượng xã hội, trong đó có cả tầng lớp hữu sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Bản Tuyên ngôn Độc lập tại ngôi nhà của vợ chồng ông bà Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ và Tuần lễ Vàng tổ chức sau đó ít lâu là bằng chứng rằng doanh nhân Việt Nam giàu lòng yêu nước và nặng tình với cách mạng.
Những doanh nhân dân tộc như Trịnh Văn Bô, Đỗ Đình Thiện, Nguyễn Sơn Hà... trở thành những người chiến sĩ cách mạng, con em những người giàu có, các doanh nhân cũng dấn thân lên chiến khu đi nốt cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc... và nhiều người cũng hy sinh như những người đồng bào công nông của mình. Nhưng thắng giặc ngoại xâm có sự đóng góp của những doanh nhân đến khi bắt tay vào xây dựng một chế độ mới thì một thời, sự ấu trĩ đã làm thui chột một thế hệ những người biết làm giàu... Để rồi đến khi bắt tay vào cuộc Đổi mới chúng ta thấy được sự hụt hẫng một truyền thống biết làm ăn kinh tế gắn với lợi ích quốc gia như cái nguyên lý nay chúng ta đã thừa nhận "dân giàu - nước mạnh". Có ai nhớ đến chuyện Bí thư Kim Ngọc trên lĩnh vực khoán trong nông nghiệp mà dám nghĩ rằng rất có thể chúng ta phải chấp nhận có những con người “lót đường” cho xã hội tiến tới.
Nếu ở thế kỷ trước, sự nghiệp giải phóng Tổ quốc khỏi ách ngoại xâm được ghi dấu bằng gương mặt những người lính dám xả thân vì nghĩa lớn, thì trong thế kỷ này lịch sử sẽ không thể vắng bóng những con người dám dốc sức vì sự nghiệp làm giàu cho đất nước. Lịch sử không phải là những gì đã qua đi và bị bỏ lại. Nó là nền tảng, là gốc rễ để chúng ta đứng vững và vươn lên. Thế hệ doanh nhân hôm nay có trong tay công nghệ, kiến thức và cơ hội mà cha ông chưa từng có. Nhưng đừng quên rằng, sức mạnh bền vững nhất lại đến từ việc thấu hiểu cội nguồn, biết trân trọng những giá trị căn bản. Một doanh nhân chân chính, trước hết phải là một công dân có trách nhiệm với cộng đồng và với lịch sử của chính mình.
Tôi tin rằng, chúng ta sẽ có những doanh nhân trở thành những danh nhân của Đất nước.