Nuôi ong rừng ngập mặn: Phát triển sinh kế bền vững gắn với bảo tồn rừng
Vùng ven biển tỉnh Ninh Bình và Vườn quốc gia (VQG) Xuân Thủy sở hữu hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc thù với diện tích lớn gồm cây Sú, Vẹt, Bần. Đây là nguồn mật hoa dồi dào, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi ong. Mật ong rừng ngập mặn nơi đây không chỉ là một sản phẩm thuần túy tự nhiên mà còn mang hương vị đặc trưng, sạch, không tồn dư hóa chất và có lợi cho sức khỏe, phù hợp với xu hướng tiêu dùng xanh hiện nay. Nghề nuôi ong tại khu vực này không chỉ trở thành sinh kế quan trọng, giúp cải thiện đời sống cho hàng chục hộ dân địa phương mà còn góp phần bảo vệ bền vững tài nguyên rừng ngập mặn.
Chú trọng đầu tư công nghệ
Mới đây, Ban Quản lý các Dự án Lâm nghiệp cùng Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên và Phát triển đã bàn giao hai hệ thống thiết bị sơ chế mật ong, tổng trị giá hơn 1 tỷ đồng cho Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ Mật ong sú, vẹt biển Kim Sơn và Vườn Quốc gia Xuân Thủy. Đây là một trong những hợp phần quan trọng của gói thầu “Xây dựng mô hình nâng cao chất lượng và giá trị thương hiệu mật ong rừng ngập mặn”, thuộc Dự án "Phục hồi và quản lý bền vững rừng ngập mặn vùng đồng bằng sông Hồng" do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ quản, với sự tài trợ của Chính phủ Hàn Quốc thông qua Cơ quan Lâm nghiệp Hàn Quốc.
Theo TS. Lee Jeong-Ho, Cố vấn trưởng Dự án, đại diện Cơ quan Lâm nghiệp Hàn Quốc thì “việc đầu tư hệ thống thiết bị không chỉ tạo điều kiện phát triển ngành nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn tại khu vực Ninh Bình mà còn góp phần cải thiện thu nhập cho người dân, mở rộng công tác quản lý rừng ngập mặn theo hướng bền vững. Xa hơn, khi mô hình được nhân rộng, Việt Nam và Hàn Quốc có thể cùng chung tay bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu và nâng cao khả năng lưu trữ carbon”.
Vườn Quốc gia Xuân Thủy hiện được giao quản lý hơn 500 ha rừng ngập mặn thuộc vùng đệm và khoảng 1.163 ha rừng ngập mặn thuộc vùng lõi. Hàng năm, từ tháng 4 đến tháng 8 – vào mùa hoa nở rộ, các hộ nuôi ong trong và ngoài khu vực đã đưa đàn ong đến khai thác mật. Sản lượng bình quân đạt khoảng 70-80 tấn mỗi năm, những vụ thuận lợi có thể lên tới 120 tấn.
Trước đây, các hoạt động khai thác, sản xuất và kinh doanh mật ong rừng ngập mặn chủ yếu đang ở mức sơ chế đơn giản, chưa được đầu tư công nghệ đồng bộ, thiếu các hệ thống hạ thủy phần có công suất lớn để chuẩn hóa chất lượng theo Tiêu chuẩn Quốc gia; đây cũng là một trong những yếu tố làm hạn chế khả năng tiếp cận đa dạng hóa thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao giá trị cũng như chất lượng của các sản phẩm liên quan tới mật ong rừng ngập mặn; đảm bảo tính khả thi, phù hợp với nhu cầu thực tiễn cùng các quy định đang hiện hành, từ đó cải thiện sinh kế cho các chủ hộ nuôi ong, hợp tác xã …, Dự án đã hỗ trợ đầu tư các thiết bị hiện đại như máy đóng chai, máy dập nút, thùng quay ly tâm và đặc biệt là máy hạ thủy phần,
Ông Phạm Vũ Ánh, Phó Giám đốc Vườn Quốc gia Xuân Thủy cho biết: “Trước đây, mật ong sau khi quay thường có hàm lượng nước khoảng 27-28%. Với thiết bị mới có công suất khoảng 200 kg mỗi mẻ trong thời gian 5-6 giờ, lượng nước dư được tách bớt, giúp mật đậm đặc hơn, từ đó nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm.”
Gia tăng chuỗi giá trị mật ong rừng ngập mặn
Gắn bó với nghề từ năm 1979, gần nửa thế kỷ theo nghề, ông Bùi Văn Quyền, xã Yên Từ, Ninh Bình cho rằng, nuôi ong muốn thành công phải luôn khiêm tốn học hỏi. Theo ông, việc xác định nguồn hoa, thời điểm di chuyển đàn ong cũng quan trọng không kém gì một kế hoạch tác chiến trong quân đội. Chỉ cần lựa chọn sai địa điểm hoặc sai thời điểm, cả vụ ong có thể thất bại. Chính nhờ kinh nghiệm tích lũy qua nhiều năm, ông đã luôn duy trì ổn định hơn 200 đàn ong, mang lại hiệu quả kinh tế cao theo từng mùa vụ, đặc biệt là vụ mùa hoa sú, vẹt tại rừng ngập mặn.
Khi Dự án “Xây dựng mô hình nâng cao chất lượng và giá trị thương hiệu mật ong rừng ngập mặn” được triển khai tại các xã vùng ven biển tỉnh Ninh Bình, ông Quyền cũng như nhiều bà con nơi đây đều tham gia đầy đủ các hoạt động. Với họ, các buổi tập huấn không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn kỹ thuật, cách chăm và khai thác đàn ong…, mà còn giúp người dân nắm bắt được quy định pháp luật cho các hộ nuôi, hỗ trợ xây dựng quy chế quản lý nhóm/hợp tác xã, nhằm ổn định vùng nuôi, nâng cao chất lượng sản phẩm, và mở rộng thị trường tiêu thụ…. Sự tham gia tích cực của người dân đã cho thấy mô hình nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn đang dần được ghi nhận là hướng sinh kế bền vững và thân thiện với môi trường.
Để khắc phục tình trạng sản xuất còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ và chất lượng chưa đồng đều, các hợp tác xã đã lần lượt ra đời như Hợp tác xã Nuôi ong mật 27/7 và Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ Mật ong sú, vẹt biển Kim Sơn. Ông Vũ Mạnh Thắng, Giám đốc Hợp tác xã Sản xuất và Tiêu thụ Mật ong sú, vẹt biển Kim Sơn cho biết: “Hợp tác xã sẽ chịu trách nhiệm giám sát – kiểm tra chất lượng sản phẩm. Những sản phẩm mật ong đạt yêu cầu sẽ được đơn vị đứng ra chịu trách nhiệm tìm đầu ra. Một tín hiệu đáng mừng là mật ong của HTX cũng đã được kết nối và đến với thị trường Hàn Quốc”
Theo ông Bùi Văn Quyền, thành viên HTX Sản xuất và Tiêu thụ Mật ong sú, vẹt biển Kim Sơn, việc tham gia vào hợp tác xã giúp người nuôi ong an tâm làm nghề hơn, mật ong làm ra đến đâu sẽ được tiêu thụ hết đến đó. Những năm thuận lợi, sau khi trừ chi phí, người nuôi ong vẫn có thể đạt thu nhập khoảng vài trăm triệu đồng.
Ông Vũ Anh Toản, Giám đốc Công ty Thương mại Mật ong hoa Sú vẹt - công ty thành viên của HTX Sản xuất và Tiêu thụ Mật ong sú, vẹt biển Kim Sơn – chia sẻ: “khoảng 50-60% sản phẩm của đơn vị đang từng bước tiếp cận khách hàng nước ngoài, đặc biệt là thị trường Hàn Quốc theo hình thức tiểu ngạch. Để thuyết phục khách hàng quốc tế, ngoài việc cho dùng thử sản phẩm, điều quan trọng là DN phải kể được câu chuyện về vùng đất, về bản sắc quê hương và sự khác biệt của mật ong sú, vẹt”.
Xây dựng thương hiệu hướng gắn với sự bền vững
Điểm khác biệt của mật ong sú, vẹt Ninh Bình đến từ chính hệ sinh thái rừng ngập mặn. Cây sú, vẹt và bần sinh trưởng trong điều kiện nửa nước, nửa cạn, chịu tác động trực tiếp của thủy triều và môi trường nước mặn. Hoa nở tự nhiên, không chịu ảnh hưởng của hóa chất hay thuốc bảo vệ thực vật. Nhờ đó, mật ong có hương vị đặc trưng với vị chua nhẹ của hoa, chút mằn mặn của biển cùng vị ngọt thanh tự nhiên. Chính sự khác biệt này giúp sản phẩm mật ong nơi đây dần được người tiêu dùng trong nước đón nhận tích cực.
Để tối ưu hoá được giá trị sản phẩm, từng bước kết nối thuận lợi với các cửa hàng, đại lý phân phối và siêu thị trên cả nước, hiện các hợp tác xã và doanh nghiệp mật ong rừng ngập mặn Ninh Bình đã rất chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu. Bao bì sản phẩm mật ong đã được dán tem chống hàng giả và mã QR, giúp người tiêu dùng có thể truy xuất nguồn gốc, thời gian khai thác, thông tin sản phẩm cũng như hạn sử dụng. Theo ông Tạ Đức Tài, Phó Giám đốc Hợp tác xã Nuôi ong mật 27/7, hiện đơn vị đã liên kết với Trung tâm Chống hàng giả Việt Nam để được cấp tem QR phục vụ xác thực và bảo hộ thương hiệu. Đây là bước đầu để mật ong rừng ngập mặn Ninh Bình dần khẳng định thương hiệu của mình.
Ông Hoàng Trọng Lễ, Bí thư Đảng ủy xã Kim Đông cho biết: “mật ong sú, vẹt là sản phẩm đặc trưng của địa phương và đã được quan tâm xây dựng nhãn hiệu chứng nhận, quảng bá trên nhiều nền tảng. Một số sản phẩm đã đạt chứng nhận OCOP 3 sao và 4 sao, tạo nền tảng quan trọng để chuẩn hóa chất lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu chính ngạch trong tương lai. Cùng với sự hỗ trợ về ong giống, máy móc, kỹ thuật và tập huấn từ Dự án, địa phương sẽ tiếp tục hoàn thiện chuỗi sản xuất - tiêu thụ, nâng cao chất lượng, bao bì và thương hiệu để phục vụ thị trường chuyên nghiệp hơn”.
Thực tế cho thấy, nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn không chỉ mang lại nguồn thu nhập ổn định mà còn tạo nên mối liên kết chặt chẽ giữa con người với thiên nhiên. Người dân hiểu rằng rừng còn thì hoa còn, hoa còn thì đàn ong mới có nguồn mật để phát triển. Chính lợi ích kinh tế gắn với trách nhiệm bảo vệ tài nguyên đã tạo nên động lực lâu dài để gìn giữ hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đây cũng là hướng đi phù hợp trong bối cảnh thích ứng với biến đổi khí hậu, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao giá trị tài nguyên bản địa và xây dựng sinh kế bền vững cho cộng đồng ven biển.
