ISSN-2815-5823
Viettel và

Viettel và "cuộc chơi" công nghệ: Khi năng lực Việt Nam bước ra thị trường quốc tế

(KDPT) - Vượt ra ngoài lĩnh vực viễn thông truyền thống, Viettel đang mở rộng sang công nghệ lõi, AI và thị trường quốc tế, từng bước định hình những động lực tăng trưởng mới.

Trong một thời gian dài, Viettel thường được nhận diện hình ảnh qua những cột sóng di động, mạng lưới trạm BTS phủ rộng và cuộc đua giành thị phần viễn thông. Đó cũng là nền móng giúp doanh nghiệp có thể lớn nhanh hơn, tích lũy nguồn lực và xây dựng một hệ thống hạ tầng đủ rộng để tiếp tục đi xa hơn. Những năm gần đây, khi nền công nghiệp ngày càng phát triển cùng với những tiến bộ về khoa học - công nghệ ngày càng len sâu vào mọi hoạt động của nền kinh tế, thì những cách nhìn ấy ngày càng không đủ để mô tả Viettel. Phía sau mạng viễn thông là cả một kho dữ liệu khổng lồ, AI, thiết bị công nghệ hay những sản phẩm đang được đưa ra thị trường.

Điều đặc biệt nằm ở chỗ, công nghệ tại Viettel đang dần chuyển từ năng lực hỗ trợ hoạt động kinh doanh thành một nguồn tăng trưởng riêng. Doanh nghiệp vừa xây dựng hạ tầng số, vừa phát triển các sản phẩm công nghệ, bên cạnh đó còn đưa một số thiết bị viễn thông ra thị trường nước ngoài.

Đây cũng là lý do bức tranh Viettel ngày nay không còn chỉ nằm ở một nhà mạng. Phía sau tập đoàn là một hệ sinh thái rộng lớn gồm viễn thông, công nghệ cao, dữ liệu AI,... cùng những doanh nghiệp đang hiện diện trên thị trường chứng khoán.

Viettel và

Nếu nhìn vào quy mô kinh doanh, viễn thông vẫn là nền tảng quan trọng nhất của Viettel. Chính nền tảng này đang tạo ra một lợi thế mà không phải doanh nghiệp công nghệ nào cũng có. Đó là những dữ liệu, là khách hàng và một thị trường đủ lớn để thử nghiệm công nghệ trong điều kiện thực tế.

Năm 2025 vừa qua, Viettel ghi nhận doanh thu hợp nhất khoảng 220.400 tỷ đồng, tăng khoảng 14%, trong khi lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 56.800 tỷ đồng. Sang quý I/2026, doanh thu hợp nhất đạt khoảng 57.400 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế đạt 14.400 tỷ đồng.

Trong quý I, doanh thu lĩnh vực chuyển đổi số tăng trên 20%; 100% nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được ứng dụng, thương mại hóa. Số đơn đăng ký sáng chế tăng 40%, số bằng sáng chế được cấp tăng hơn 50% so với cùng kỳ.

Viettel và

Những con số này cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và kinh doanh đang được rút ngắn. Một công nghệ được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm chỉ thực sự có giá trị kinh tế khi được đưa vào mạng lưới, trở thành thiết bị hoặc dịch vụ mà khách hàng sẵn sàng trả tiền.

Đây cũng là hướng đi Viettel xác định trong chiến lược phát triển đến năm 2030 với 5 trụ cột, bao gồm viễn thông trong nước và quốc tế; công nghệ thông tin và dịch vụ số; nghiên cứu phát triển, công nghiệp công nghệ cao; chuyển phát, logistics và thương mại; cùng trí tuệ nhân tạo.

Trong vài năm qua, doanh nghiệp đã đầu tư vào các trung tâm dữ liệu, hệ thống tính toán hiệu năng cao và hạ tầng phục vụ AI. Siêu máy tính NVIDIA DGX B200 được đưa vào khai thác cũng cho thấy hướng đi này không chỉ dừng ở việc sử dụng các công cụ AI có sẵn.

Không những vậy, Viettel cũng tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu và phát triển. Dự án Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển tại Hòa Lạc có tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 10.000 tỷ đồng trên diện tích 13,3 ha, hướng tới hình thành một không gian nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển công nghệ quy mô lớn. Dự kiến đến năm 2030, trung tâm này có thể quy tụ khoảng 2.500 nhân sự chất lượng cao.

Viettel và
Viettel và

Đằng sau sự chuyển mình của Viettel sang công nghệ có một dấu ấn khá rõ rệt từ cách tập đoàn được dẫn dắt trong những năm gần đây. Ở vị trí Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc, Trung tướng Tào Đức Thắng nhiều lần nhấn mạnh một định hướng xuyên suốt: Viettel không chỉ sử dụng công nghệ, mà phải từng bước làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào toàn bộ chuỗi giá trị.

Quan điểm này thể hiện khá rõ qua cách Viettel tiếp cận 5G và hiện nay là 6G. Tại Mobile World Congress 2026, Viettel công bố tăng tốc nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa các sản phẩm 6G do mình làm chủ. Tập đoàn đặt mục tiêu thử nghiệm hệ thống và thiết bị 6G tiền thương mại vào năm 2028, hướng tới thương mại hóa từ năm 2029.

Không những vậy, trong chương trình truy cập sớm nền tảng 6G ký với Qualcomm vào tháng 7/2026, Viettel trở thành đối tác đầu tiên trên thế giới tham gia chương trình này. Theo định hướng được ông Tào Đức Thắng nhấn mạnh, cuộc gọi 6G tiền thương mại đầu tiên của Viettel phải được thực hiện trên hệ thống và thiết bị do chính Viettel nghiên cứu, phát triển và sản xuất.

Viettel và

Cách đặt vấn đề cho thấy một thay đổi lớn về tư duy, công nghệ không được xem đơn thuần là công cụ để Viettel kinh doanh viễn thông, mà phải trở thành năng lực có thể tạo ra sản phẩm và giá trị mới.

Quan điểm này đã xuất hiện từ trước khi câu chuyện 6G trở thành tâm điểm. Khi Viettel khai trương mạng 5G thương mại đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2024, ông Tào Đức Thắng nhấn mạnh việc Viettel làm chủ thiết bị 5G và đưa Việt Nam vào nhóm những quốc gia có khả năng sản xuất thiết bị 5G. Cùng với mạng lưới, Viettel khi đó đã chuẩn bị hơn 130 trường hợp ứng dụng 5G cho các lĩnh vực như sản xuất công nghiệp, đô thị thông minh, giao thông, logistics, nông nghiệp, y tế và giáo dục.

Nếu nhìn xuyên suốt, 5G không chỉ là một dự án hạ tầng. Nó giống một bước chuyển trong cách Viettel tạo năng lực công nghệ: làm chủ thiết bị, đưa vào mạng lưới của chính mình, kiểm chứng ở quy mô lớn rồi tìm kiếm khả năng thương mại hóa ở những thị trường khác.

Cách tiếp cận này cũng được thể hiện rõ nét trong quyết định đầu tư mạnh cho R&D. Khi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Viettel tại Hòa Lạc được khởi công, ông Tào Đức Thắng xác định đây sẽ là nơi tập trung khoảng 2.500 nhân sự công nghệ chất lượng cao. Ông cho biết Viettel xác định làm chủ 9/11 công nghệ chiến lược quốc gia, trong đó có AI, bán dẫn, Cloud, an ninh mạng, 5G/6G, robot hình người, hàng không vũ trụ, blockchain và vật liệu mới.

Danh sách này cho thấy tham vọng của Viettel không dừng lại ở viễn thông. Nhưng điều này cũng đặt ra một thách thức không nhỏ. Với một tập đoàn có quy mô như Viettel, đầu tư cho nghiên cứu chỉ có ý nghĩa kinh tế khi những công nghệ đó cuối cùng có thể được đưa vào ứng dụng, hình thành sản phẩm và tạo doanh thu.

Có lẽ vậy nên ông Tào Đức Thắng thường gắn câu chuyện “làm chủ công nghệ” với thương mại hóa. Trong định hướng 6G, Viettel không chỉ nói đến việc xây dựng mạng thế hệ mới cho khách hàng trong nước, mà đặt mục tiêu phát triển các thiết bị mạng, nền tảng phần mềm và hệ sinh thái thiết bị thông minh tích hợp AI để có thể kinh doanh trên thị trường quốc tế.

Viettel và

Một cách khác để nhìn vào hệ sinh thái Viettel là quan sát những doanh nghiệp đang niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán.

Viettel Global (VGI) là trường hợp rõ nhất thể hiện khả năng mở rộng hoạt động viễn thông ra ngoài Việt Nam. Năm 2025, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu thuần 44.271 tỷ đồng, tăng 25%; lợi nhuận sau thuế đạt 11.250 tỷ đồng, tăng 57%. Đây là mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất từ trước đến nay của Viettel Global.

Con số này tương đối ấn tượng vì thị trường quốc tế của Viettel không còn chỉ là chuyện thử nghiệm. Sau 20 năm đầu tư ra nước ngoài, doanh nghiệp đã hiện diện tại 11 quốc gia, phục vụ gần 90 triệu khách hàng và dẫn đầu tại nhiều thị trường về thuê bao di động.

Năm 2026, Viettel tiếp tục mở rộng dấu chân quốc tế khi giành quyền khai thác phổ tần tại Cộng hòa Dominica, đưa số thị trường viễn thông nước ngoài lên 11. Nhưng nếu Viettel Global đang mở rộng thị trường bằng hạ tầng và kinh nghiệm vận hành, thì ở một hướng khác, Viettel High Tech lại đang đưa chính những sản phẩm công nghệ do người Việt nghiên cứu và phát triển ra bên ngoài.

Hai hướng đi này có thể tạo thành một vòng kết nối tương trợ. Viettel Global mang về thị trường, khách hàng và kinh nghiệm triển khai tại nhiều quốc gia, trong khi Viettel High Tech phát triển thiết bị, phần mềm và các công nghệ lõi. Khi đặt cạnh nhau, những thị trường Viettel đã hiện diện không chỉ là nơi kinh doanh dịch vụ viễn thông mà còn có thể trở thành môi trường để thử nghiệm, triển khai và mở rộng các sản phẩm công nghệ do chính tập đoàn phát triển.

Viettel và

Ở trong nước, cấu trúc này tiếp tục được nối dài qua những doanh nghiệp như Viettel Construction (CTR) và Viettel Post (VTP). Từ nền tảng xây dựng và vận hành hạ tầng viễn thông, CTR đang tham gia sâu hơn vào nhu cầu phát triển hạ tầng số và năng lượng. Trong khi đó, VTP cũng dịch chuyển cùng sự thay đổi của ngành logistics, nơi nền tảng công nghệ, tự động hóa và khả năng tối ưu mạng lưới ngày càng quyết định hiệu quả vận hành.

Có thể nói, mỗi doanh nghiệp đang khai thác một thị trường khác nhau. Vậy mà khi đặt trong cùng hệ sinh thái, các năng lực bắt đầu bổ trợ cho nhau: Viettel có hạ tầng và dữ liệu; Viettel High Tech phát triển công nghệ lõi; VGI mở rộng thị trường quốc tế; CTR đảm nhiệm một phần năng lực xây dựng và vận hành hạ tầng; còn VTP đứng ở điểm giao giữa công nghệ, thương mại điện tử và logistics.

Đó cũng là điểm khá ấn tượng trong cách Viettel mở rộng hoạt động của mình. Giá trị không còn chỉ nằm ở từng dịch vụ riêng lẻ mà dần hình thành một chuỗi liên kết từ nghiên cứu sản xuất, hạ tầng đến thị trường. Khi một công nghệ được phát triển trong hệ thống có thể đi ra mạng lưới trong nước, rồi tiếp tục được triển khai tại các thị trường quốc tế và tạo ra doanh thu từ những khách hàng bên ngoài, công nghệ khi đó đã thực sự trở thành một hoạt động kinh doanh triển vọng.

Viettel và

Mạng 5G thường được xem là biểu tượng rõ nhất của quá trình chuyển dịch công nghệ tại Viettel. Dù vậy, giá trị của 5G không đơn thuần nằm ở tốc độ truy cập nhanh hơn.

Khi mạng viễn thông chuyển sang thế hệ mới, nó trở thành nền tảng cho nhiều lĩnh vực khác như nhà máy thông minh, y tế từ xa, camera AI,... cùng các hệ thống điều hành đô thị. Điều này khiến yêu cầu đối với hạ tầng viễn thông có nhiều thay đổi. Doanh nghiệp không chỉ cần phủ sóng rộng mà còn phải kiểm soát được nhiều lớp công nghệ bên dưới.

Viettel High Tech cho biết đã làm chủ các lớp quan trọng của mạng 5G, gồm mạng truy nhập vô tuyến, mạng truyền dẫn IP và mạng lõi 5GC. Trong năm 2024, thiết bị trạm gốc 5G của Viettel được chứng nhận đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia.

Việc kiểm soát cả phần cứng và phần mềm có ý nghĩa đặc biệt giữa làn sóng mạng viễn thông ngày càng gắn với AI và điện toán đám mây. Khi kiến trúc mạng thay đổi, doanh nghiệp sở hữu công nghệ lõi sẽ có khả năng điều chỉnh sản phẩm theo nhu cầu của từng thị trường thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị của bên thứ ba.

Tại Mobile World Congress 2026, Viettel ký hơn 10 thỏa thuận hợp tác với những tên tuổi lớn của ngành công nghệ và viễn thông như Qualcomm, Intel, AMD và Ericsson, tập trung vào các hướng phát triển như mạng AI-native, 5G Advanced và 6G. Những hợp tác này cho thấy vị trí của Viettel trong chuỗi công nghệ đang có sự thay đổi: từ một doanh nghiệp sử dụng công nghệ để xây dựng mạng lưới, thì nay Viettel đang muốn tiến sâu hơn vào chính quá trình tạo ra công nghệ.

Viettel và

Khoảng cách giữa hai vị trí đó là không hề nhỏ. Nếu trước đây phần lớn công nghệ cốt lõi của mạng viễn thông được mua từ các nhà cung cấp quốc tế, thì giờ đây Viettel muốn tự phát triển nhiều lớp công nghệ hơn, cũng như cùng các đối tác toàn cầu nghiên cứu những thế hệ mạng tiếp theo.

Muốn đi được con đường này, Viettel có một lợi thế mà không phải doanh nghiệp công nghệ nào cũng sở hữu, đó là một mạng lưới viễn thông đủ lớn để công nghệ được thử nghiệm trong điều kiện thực tế. Những thiết bị, phần mềm hay giải pháp mới không chỉ nằm trong phòng nghiên cứu mà có thể được đưa vào mạng lưới, vận hành với hàng triệu thuê bao và liên tục kiểm chứng qua những tình huống thực tế.

Vì vậy, hạ tầng viễn thông của Viettel không chỉ là nguồn tạo doanh thu từ dịch vụ. Nó còn là một “phòng thử nghiệm” ở quy mô lớn, nơi công nghệ được kiểm chứng trước khi bước ra thị trường.

Đây có thể là một trong những lợi thế quan trọng nhất của Viettel khi theo đuổi công nghệ lõi. Bởi để bán được một sản phẩm công nghệ ra bên ngoài, trước hết doanh nghiệp phải chứng minh rằng sản phẩm đó có thể hoạt động ổn định trên chính hệ thống của mình.

Viettel và

Nếu nghiên cứu và phát triển là phần phía sau của năng lực công nghệ, thì xuất khẩu sản phẩm là một trong những phép đo rõ nhất cho khả năng thương mại hóa.

Viettel High Tech đã có bước đi theo hướng này từ cuối năm 2022, khi ký hợp đồng xuất khẩu thiết bị IP Router sang Ấn Độ cho mạng lưới của Gwave, thành viên UTL Group. Thiết bị hỗ trợ tốc độ 100 Gbps, được Viettel làm chủ từ nghiên cứu đến sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như CE của châu Âu và FCC của Mỹ.

Điểm cần lưu ý không nằm ở giá trị của một hợp đồng riêng lẻ, mà ở việc một sản phẩm “Made in Vietnam” được đưa vào mạng lưới viễn thông của một thị trường có mức độ cạnh tranh cao như Ấn Độ.

Để bán được một bộ định tuyến hay một trạm 5G, doanh nghiệp phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề, như thiết kế phần cứng, phần mềm, công nghệ lõi,... cùng các tiêu chuẩn kỹ thuật, chi phí sản xuất và dịch vụ sau bán hàng. Nói cách khác, xuất khẩu thiết bị viễn thông khó hơn rất nhiều so với việc xuất khẩu một sản phẩm công nghệ tiêu dùng thông thường.

Chính vì thế, Viettel đã tiếp tục mở rộng hướng đi này tại Ấn Độ. Trong năm 2024, Viettel High Tech ký hợp đồng thương mại thứ hai cung cấp hệ thống Private 5G với UTL Group. Trước đó, doanh nghiệp đã triển khai hệ thống Private 5G hoàn chỉnh đầu tiên tại Ấn Độ, gồm cả mạng truy nhập vô tuyến, truyền dẫn 100G và mạng lõi 5GC.

Điểm khác biệt nằm ở chỗ này. Nếu Viettel Global mang năng lực vận hành viễn thông của Việt Nam ra thị trường quốc tế, thì Viettel High Tech đang đi thêm một bước nữa: đưa những công nghệ do người Việt phát triển ra thị trường quốc tế.

Viettel và

Về dài hạn, xuất khẩu công nghệ có khả năng mở ra một mô hình tăng trưởng khác. Một thiết bị hay giải pháp sau khi hoàn thiện, có thể được bán cho nhiều nhà mạng, doanh nghiệp và quốc gia. Khi đó, quy mô thị trường không còn phụ thuộc hoàn toàn vào số lượng thuê bao mà Viettel trực tiếp sở hữu.

Đây cũng là điểm tạo nên sự cộng hưởng giữa hai hướng đi. Viettel Global mở rộng thị trường, còn Viettel High Tech cung cấp các sản phẩm và giải pháp công nghệ. Những thị trường đã có hạ tầng Viettel có thể trở thành nơi thử nghiệm, triển khai các công nghệ mới trước khi sản phẩm được đưa tới những thị trường rộng hơn.

Ở phạm vi trong nước, hướng đi này đang tiếp tục mở rộng với mạng 5G Private. Việc Viettel High Tech triển khai thành công mạng 5G Private tại nhà máy Toshiba vào tháng 10/2026 cho thấy 5G đang dần bước ra khỏi phạm vi mạng di động đại chúng để đi sâu vào môi trường sản xuất. Khi kết nối trở thành một phần của dây chuyền, nhà máy và hệ thống điều hành, giá trị của công nghệ không còn nằm đơn thuần ở tốc độ đường truyền mà được đo bằng năng suất và hiệu quả mà nó tạo ra.

Ở tầng khúc cao hơn, Viettel đang tập trung tiến vào cuộc đua 5G Advanced và 6G. Tại MWC 2026, Viettel High Tech công bố các hợp tác với Intel, AMD và ID Quantique, đồng thời tham gia liên minh 6G do Qualcomm khởi xướng. Doanh nghiệp cũng định hướng phát triển mạng theo kiến trúc AI-native, trong đó AI được tích hợp ngay từ khâu thiết kế và vận hành hệ thống mạng.

Nhìn rộng hơn, câu chuyện công nghệ của Viettel đang hình thành ba lớp tương đối rõ. Lớp đầu tiên là xây dựng và vận hành hạ tầng, lớp thứ hai là nghiên cứu, phát triển và sản xuất thiết bị và lớp thứ ba là đưa những sản phẩm và công nghệ đó ra thị trường quốc tế.

Và chính ở lớp thứ ba này, năng lực nghiên cứu mới được kiểm chứng đầy đủ nhất. Bởi khi công nghệ bước ra thị trường, giá trị của nó không còn được đo bằng những gì doanh nghiệp có thể tạo ra, mà bằng việc khách hàng có sẵn sàng trả tiền để sử dụng hay không.

Viettel và
Viettel và

Viễn thông vẫn có thể tiếp tục tạo ra dòng tiền lớn cho Viettel trong nhiều năm tới. Tuy nhiên, khi thị trường ngày càng trưởng thành, dư địa tăng trưởng dài hạn sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng doanh nghiệp biến hạ tầng và năng lực công nghệ sẵn có thành những thị trường mới.

Đây cũng là lý do AI, nền tảng số hay các giải pháp dành cho doanh nghiệp ngày càng giữ vị trí rõ nét hơn trong chiến lược của Viettel. Không chỉ mở rộng sang những lĩnh vực mới, doanh nghiệp đang tận dụng chính nền tảng viễn thông để bước vào những nhu cầu lớn hơn của nền kinh tế số.

Sự thay đổi này bắt nguồn từ cách công nghệ đang đi sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Trước đây, hạ tầng viễn thông chủ yếu giúp con người kết nối với nhau. Sau đó, kết nối mở rộng sang các thiết bị và máy móc. Còn hiện nay, dữ liệu từ những thiết bị đó tiếp tục được đưa vào các hệ thống AI, phần mềm quản trị và quy trình vận hành.

Khi các lớp công nghệ bắt đầu kết nối với nhau, nhu cầu của một khách hàng cũng thay đổi theo. Khách hàng giờ đây không còn đơn thuần mua một dịch vụ viễn thông riêng lẻ. Họ đang tìm kiếm một hệ thống công nghệ có thể phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh doanh. Quy mô của thị trường vì thế cũng lớn hơn đáng kể so với thị trường thuê bao truyền thống.

Mở rộng sang những thị trường này đồng nghĩa Viettel phải bước vào một cuộc cạnh tranh khốc liệt hơn. Ở đó, doanh nghiệp không chỉ đối đầu với các nhà mạng mà còn phải cạnh tranh với những tập đoàn công nghệ toàn cầu có quy mô rất lớn và đã có vị thế tại nhiều thị trường.

Viettel và

Trong nước, Viettel có lợi thế từ quy mô hạ tầng, năng lực triển khai và tệp khách hàng lớn. Nhưng khi bước ra ngoài thế giới, những lợi thế này sẽ không còn đủ nếu sản phẩm thiếu tính cạnh tranh về giá, khó tích hợp hoặc chưa đạt chất lượng tương đương các nhà cung cấp quốc tế.

Bởi vậy, việc xuất khẩu IP Router sang Ấn Độ có ý nghĩa lớn hơn một hợp đồng thương mại đơn lẻ. Đây là dấu hiệu cho thấy một sản phẩm công nghệ được nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào chuỗi cung ứng của một thị trường quốc tế.

Dẫu vậy, từ những hợp đồng đầu tiên đến một ngành kinh doanh có quy mô lớn vẫn còn cả một chặng đường dài. Công nghệ cần được chuẩn hóa thành danh mục sản phẩm; sản phẩm phải tạo ra nhu cầu sử dụng lặp lại và những khách hàng đầu tiên phải mở rộng thành thị trường. Quan trọng hơn, doanh thu tạo ra phải đủ lớn để bù đắp chi phí nghiên cứu, sản xuất và liên tục nâng cấp công nghệ.

Nếu kết nối được các mắt xích này, công nghệ có thể dần trở thành một nguồn doanh thu độc lập, thay vì chỉ đóng vai trò là chi phí cần thiết để duy trì hoạt động viễn thông.

Đó có lẽ là cuộc chuyển mình tham vọng nhất trong bức tranh Viettel hiện nay. Từ một doanh nghiệp xây dựng mạng lưới để cung cấp dịch vụ, Viettel đang phải học cách tạo ra những sản phẩm có thể bán ra thị trường bên ngoài. Từ vị thế sử dụng công nghệ của các nhà cung cấp toàn cầu, doanh nghiệp muốn tiến sâu hơn vào quá trình nghiên cứu và tạo ra công nghệ. Và từ một thị trường viễn thông trong nước, không gian tăng trưởng đang được mở rộng sang các thị trường quốc tế cũng như những ngành kinh tế đang bước vào quá trình số hóa.

Với thị trường chứng khoán, những chuyển động này cũng đáng được nhìn nhận ở một góc độ riêng. Giá trị của hệ sinh thái Viettel không chỉ nằm ở doanh thu viễn thông hay kết quả kinh doanh của từng doanh nghiệp thành viên. Điều đáng quan tâm hơn là khả năng chuyển hóa hạ tầng thành công nghệ, công nghệ thành sản phẩm và sản phẩm thành thị trường.

Khi một thiết bị viễn thông được nghiên cứu, thiết kế và sản xuất tại Việt Nam rồi bán cho khách hàng nước ngoài, câu chuyện khi đó không còn chỉ thuộc về một doanh nghiệp. Điều đó còn cho thấy Việt Nam đang từng bước đưa năng lực công nghệ của mình tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nếu kinh tế số tiếp tục mở rộng với tốc độ hiện nay, thương mại hóa công nghệ và vươn ra thị trường quốc tế sẽ không còn là lựa chọn bổ sung, mà sẽ trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của Viettel và các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam. Khi đó, năng lực tạo ra công nghệ, biến công nghệ thành sản phẩm và đưa sản phẩm đi xa sẽ quyết định Việt Nam đứng ở đâu trong chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. 

Nội dung: Hà Chi
Thiết kế: Thùy Dung

Tin khác

Viettel và 'cuộc chơi' công nghệ: Khi năng lực Việt Nam bước ra thị trường quốc tế

Viettel và "cuộc chơi" công nghệ: Khi năng lực Việt Nam bước ra thị trường quốc tế

(KDPT) - Vượt ra ngoài lĩnh vực viễn thông truyền thống, Viettel đang mở rộng sang công nghệ...
Techcombank: Từ ngân hàng doanh nghiệp đến hệ sinh thái tài chính

Techcombank: Từ ngân hàng doanh nghiệp đến hệ sinh thái tài chính

(KDPT) - Từ một ngân hàng gắn liền với khách hàng doanh nghiệp, Techcombank đang chuyển mình theo...
Doanh nhân dân tộc Việt Nam với hành trình lịch sử

Doanh nhân dân tộc Việt Nam với hành trình lịch sử

(KDPT) - Hành trình vươn tới sự hùng cường của đất nước chưa bao giờ vắng bóng những...
Doanh nhân Việt Nam - Bản lĩnh vươn tầm và khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới của dân tộc

Doanh nhân Việt Nam - Bản lĩnh vươn tầm và khát vọng bứt phá trong kỷ nguyên mới của dân tộc

(KDPT) - Tháng 10 về mang theo âm hưởng hào hùng của những ngày mùa Thu lịch sử, cũng là thời...
Phú Long – 20 năm đi tìm giá trị phía sau những vùng đất

Phú Long – 20 năm đi tìm giá trị phía sau những vùng đất

(KDPT) - Hai thập niên từ Nam Sài Gòn đến Mailand Hanoi City, Phú Long từng bước đánh thức những...
Vietjet Air – từ định hình lại ngành hàng không đến cuộc đua mới trên bầu trời

Vietjet Air – từ định hình lại ngành hàng không đến cuộc đua mới trên bầu trời

(KDPT) - Từ những tấm vé giá rẻ, Vietjet Air đã vươn mình trở thành một hệ sinh thái hàng không...