Cục Hải quan đánh giá tình hình phân cấp giải quyết thủ tục hành chính hoạt động xuất nhập khẩu
Theo Cục Hải quan, kết quả rà soát là cơ sở để cập nhật, điều chỉnh phương án triển khai phù hợp với thẩm quyền giải quyết TTHC mới của các bộ, ngành.
Thực hiện chủ trương đẩy mạnh phân quyền, phân cấp gắn với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, trong năm 2025, Chính phủ đã ban hành 28 Nghị định về phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền, qua đó đã thực hiện phân cấp 556 thủ tục hành chính (TTHC) từ Trung ương cho địa phương.
Đến năm 2026, Chính phủ tiếp tục ban hành 08 Nghị định về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa TTHC và điều kiện kinh doanh, trong đó tiếp tục phân cấp 134 TTHC từ Trung ương cho địa phương.
Về nội dung, lĩnh vực phân cấp, đối với các TTHC liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, phương tiện vận tải, nội dung phân cấp chủ yếu như sau:
Bộ Nông nghiệp và Môi trường: Các TTHC về kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật, thú y, thủy sản và kiểm tra chất lượng hàng hóa nông, lâm, thủy sản; Bộ Công Thương: Các TTHC về quản lý hóa chất, xuất nhập khẩu, quá cảnh, xuất xứ hàng hóa và cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O).
Bộ Y tế: Các TTHC về kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm, dược phẩm, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm và thiết bị y tế; Bộ Xây dựng: Chủ yếu là các TTHC liên quan đến phương tiện vận tải đường bộ, được phân cấp về UBND cấp tỉnh thực hiện.
Bộ Khoa học và Công nghệ: Chủ yếu là các TTHC về kiểm tra chất lượng hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ; Bộ Nội vụ: Các TTHC về kiểm tra chất lượng hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: Chủ yếu là các TTHC về xuất bản phẩm hàng hóa; Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Quốc phòng, việc tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp cơ bản không làm thay đổi thẩm quyền xử lý; tiếp tục thực hiện theo mô hình cơ quan chuyên ngành.
Theo Cục Hải quan, việc phân cấp đã có một số kết quả phân cấp nổi bật. Theo kết quả rà soát, các thủ tục cấp C/O, kiểm tra an toàn thực phẩm và cấp phép hóa chất có số lượng hồ sơ lớn, phạm vi tác động rộng, liên quan trực tiếp đến nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Đối với thủ tục cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O). Từ ngày 1/8/2026, việc cấp C/O được phân cấp cho các cơ quan, tổ chức cấp C/O tại địa phương. Đối với việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), hồ sơ đề nghị cấp C/O được doanh nghiệp khai, gửi và được cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, kiểm tra, xử lý, quyết định cấp trên hệ thống do Bộ Công Thương quản lý. Sau khi hoàn thành xử lý hồ sơ, dữ liệu C/O điện tử mẫu D và AK/VK được truyền sang Cổng thông tin một cửa quốc gia để tiếp tục chuyển cho các đối tác nước ngoài. Các C/O khác được Bộ Công Thương trả trực tiếp cho doanh nghiệp.
Việc phân cấp thẩm quyền cấp C/O làm thay đổi cơ quan có thẩm quyền xử lý hồ sơ nhưng không làm thay đổi mô hình hệ thống và đầu mối kết nối, trao đổi dữ liệu qua Cổng thông tin một cửa quốc gia. Các vướng mắc về quy trình, thời gian xử lý và hoạt động của hệ thống cấp C/O được xác định phát sinh tại khâu tiếp nhận, xử lý, cấp C/O của Bộ Công Thương và các cơ quan cấp C/O.
Đối với thủ tục kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu. kiểm tra an toàn thực phẩm nhập khẩu thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ ngày 1/9/2026, thẩm quyền kiểm tra được chuyển về cơ quan do Chủ tịch UBND cấp tỉnh giao hoặc chỉ định.
Ban Công nghệ thông tin và Thống kê Hải quan - Cục Hải quan đã phối hợp với Cục Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cập nhật, bổ sung danh mục cơ quan xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia đối với thủ tục cấp giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật nhập khẩu, kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm hàng hóa có nguồn gốc thực vật nhập khẩu và kiểm tra nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản có nguồn gốc thực vật nhập khẩu.
Từ ngày 1/9/2026 đến ngày 15/9/2026, đối với thủ tục nêu trên, Cổng thông tin một cửa quốc gia đã tiếp nhận và chuyển Bộ Nông nghiệp và Môi trường xử lý 25.674 hồ sơ; trả kết quả cấp giấy an toàn thực phẩm đối với 8.932 hồ sơ, đáp ứng yêu cầu xử lý hồ sơ theo thẩm quyền mới.
Đối với thủ tục trong lĩnh vực hóa chất, Cục Hải quan đã tổng hợp vướng mắc từ các đơn vị, trao đổi với Cục Hóa chất, Bộ Công Thương để làm rõ, thống nhất cách thực hiện và ban hành văn bản hướng dẫn các Chi cục Hải quan khu vực. Đối với nội dung chưa thống nhất, Cục Hải quan tiếp tục báo cáo Bộ Tài chính để trao đổi, kiến nghị Bộ Công Thương hướng dẫn.
Đồng thời, Cục Hải quan và Cục Hóa chất đang phối hợp triển khai phương án kết nối, chia sẻ dữ liệu điện tử về giấy phép hóa chất nhằm hỗ trợ công chức hải quan thực hiện thủ tục, tạo thuận lợi cho thông quan hàng hóa.
Về kết quả rà soát các thủ tục thuộc phạm vi Dự án Mở rộng Cổng thông tin một cửa quốc gia (giai đoạn 3) sẽ thực hiện triển khai 188 TTHC thuộc 9 Bộ, ngành phục vụ triển khai cơ chế một cửa quốc gia và ASEAN.
Qua rà soát, có 65/188 thủ tục được xác định có phân cấp từ Trung ương cho địa phương, chiếm 34,6%. Trong đó, toàn bộ 23 thủ tục thuộc lĩnh vực đường bộ của Bộ Xây dựng trong danh mục rà soát đã được phân cấp cho địa phương. Các thủ tục phân cấp còn lại chủ yếu thuộc các nhóm kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm, chứng nhận xuất xứ hàng hóa và quản lý xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của các Bộ, ngành.
Kết quả rà soát cũng cho thấy, trong 188 TTHC dự kiến triển khai thuộc dự án, có 166 thủ tục đã có hệ thống xử lý nghiệp vụ, gồm 62 thủ tục triển khai trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và 104 thủ tục trên hệ thống chuyên ngành hoặc cổng dịch vụ công của các bộ, ngành. Còn lại 22 thủ tục chưa có hệ thống xử lý nghiệp vụ, tập trung chủ yếu vào Bộ Y tế.
Trên cơ sở hiện trạng này, để tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện TTHC trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, Cục Hải quan đã trao đổi với đầu mối nghiệp vụ, kỹ thuật của các Bộ, ngành các giải pháp dự kiến thực hiện. Việc rà soát, cập nhật phương án triển khai và phối hợp xử lý vướng mắc nhằm bảo đảm kết nối, trao đổi dữ liệu phù hợp với thẩm quyền giải quyết TTHC sau phân cấp, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu.
