Cục Hải quan tháo gỡ vướng mắc về thủ tục cho doanh nghiệp Nhật Bản
Tại hội nghị, doanh nghiệp Nhật Bản nêu các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc Cục Hải quan trực tiếp trao đổi, giải đáp và hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện theo quy định.
Ông Kim Long Biên, Trưởng Ban Pháp chế, Cục Hải quan, cho biết việc tổ chức đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp nhằm tăng cường sự hiểu biết, đồng thuận giữa cơ quan Hải quan và doanh nghiệp, đồng thời tiếp nhận những vấn đề phát sinh từ thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu.
Làm rõ cách xác định trị giá hải quan
Một trong những vấn đề được doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm là cách xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu trong trường hợp một số khoản chi phí chưa có giá trị thực tế tại thời điểm khai báo.
Cục Hải quan cho biết, trị giá hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán tính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải quốc tế. Việc xác định trị giá phải dựa trên chứng từ, tài liệu, số liệu khách quan và có thể định lượng được.Người khai hải quan tự kê khai, tự xác định và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung khai báo.
Đối với hàng xuất khẩu theo các điều kiện giao hàng khác nhau, doanh nghiệp được hướng dẫn phối hợp với đối tác nhập khẩu, đơn vị cung cấp dịch vụ logistics hoặc đại lý hải quan để có thông tin về chi phí thực tế và chứng từ liên quan trước khi khai báo.
Trường hợp trị giá hải quan chưa được xác định đúng, người khai hải quan thực hiện sửa đổi, bổ sung theo quy định đối với từng tờ khai xuất khẩu.
Doanh nghiệp hỏi về mã HS và giao nhận hàng hóa
Ở nhóm vấn đề về phân loại hàng hóa, một doanh nghiệp sản xuất vít phản ánh việc khách hàng yêu cầu áp mã HS theo công dụng của sản phẩm, trong khi doanh nghiệp cho rằng mặt hàng cần được phân loại theo đặc điểm của chính sản phẩm.
Cục Hải quan cho biết việc phân loại được thực hiện trên cơ sở hồ sơ hải quan, tài liệu kỹ thuật và thông tin liên quan để xác định tên gọi, mã số hàng hóa.
Đối với mặt hàng vít được doanh nghiệp cung cấp thông tin, cơ quan Hải quan xác định phù hợp phân loại nhóm 73.18 và thuộc phạm vi “bộ phận có công dụng chung”, kể cả khi được sử dụng làm linh kiện, bộ phận của máy in, máy đo huyết áp hoặc máy móc, thiết bị khác.
Đối với doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp ưu tiên, một số kiến nghị tập trung vào cách thức giao nhận hàng hóa và khai báo hải quan.
Theo hướng dẫn, trường hợp hàng hóa xuất nhập khẩu tại chỗ được giao nhận nhiều lần trong một thời hạn nhất định theo cùng hợp đồng hoặc đơn hàng giữa doanh nghiệp ưu tiên và đối tác, doanh nghiệp có thể giao hàng trước, khai hải quan sau. Việc khai báo được thực hiện trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày giao nhận hàng hóa.
Trong trường hợp thuộc quy định này, cơ quan Hải quan chỉ kiểm tra chứng từ liên quan đến việc giao nhận, không kiểm tra thực tế hàng hóa.
Làm rõ yêu cầu khai mã CAS, phản hồi của hệ thống VNACCS/VCIS
Về quản lý hóa chất, doanh nghiệp Nhật Bản đặt vấn đề về yêu cầu khai bổ sung mã CAS. Cục Hải quan cho biết yêu cầu bổ sung mã CAS không áp dụng đối với mọi lô hàng mà được thực hiện trên cơ sở xác định rủi ro hoặc dấu hiệu vi phạm theo các trường hợp đã được hướng dẫn.
Trường hợp hàng hóa phải kiểm tra, phân tích, giám định để xác định điều kiện xuất khẩu, nhập khẩu, việc thông quan được thực hiện trên cơ sở kết luận kiểm tra, phân tích, giám định hoặc thông báo miễn kiểm tra theo quy định.
Một vấn đề khác được doanh nghiệp phản ánh là tình trạng phản hồi chậm của hệ thống VNACCS/VCIS tại một số thời điểm.
Theo Cục Hải quan, hệ thống hiện hoạt động liên tục, ổn định và đáp ứng việc đăng ký tờ khai xuất nhập khẩu với trung bình khoảng 65.000 tờ khai mỗi ngày. Đối với tình trạng phản hồi chậm mà doanh nghiệp phản ánh, nguyên nhân có thể liên quan đến tốc độ xử lý của phần mềm phía doanh nghiệp hoặc đường truyền kết nối giữa doanh nghiệp và cơ quan Hải quan qua môi trường internet tại thời điểm xử lý tờ khai.
Theo Cục Hải quan, việc trao đổi trực tiếp từng nhóm vướng mắc giúp doanh nghiệp có thêm cơ sở thực hiện thủ tục thống nhất, đồng thời tạo kênh để cơ quan Hải quan tiếp nhận những vấn đề phát sinh trong thực tiễn hoạt động xuất nhập khẩu.
Hội nghị đối thoại định kỳ với JCCI cũng là kênh trao đổi thường xuyên giữa cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam. Các kiến nghị được chuyển tới các đơn vị chuyên môn để tiếp tục nghiên cứu, góp phần nhận diện những khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật hải quan.
- Hải quan Việt Nam - Campuchia tăng cường hợp tác chống buôn lậu, ma túy
- Hải quan phát hiện hơn 800 kg thực phẩm không rõ nguồn gốc tại biên giới phía Bắc
- Hải quan khu vực VI tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại
