ISSN-2815-5823

Hoa Kỳ siết kiểm soát chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt cần chủ động truy xuất nguồn gốc

(KDPT) - Yêu cầu mới từ thị trường Hoa Kỳ về kiểm soát hàng hóa liên quan đến lao động cưỡng bức đặt ra áp lực lớn đối với doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Việc chuẩn hóa dữ liệu, minh bạch chuỗi cung ứng và truy xuất nguồn gốc được xem là giải pháp quan trọng để hạn chế rủi ro và duy trì khả năng tiếp cận thị trường.

Ngày 23/7 vừa qua, Tổng thống Hoa Kỳ ban hành Bản ghi nhớ gửi Đại diện Thương mại Hoa Kỳ về các hành động theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 đối với 60 nền kinh tế liên quan đến việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức.

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp  Việt Nam cần chủ động tăng cường truy xuất nguồn gốc, minh bạch chuỗi cung ứng và kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào nhằm giảm thiểu rủi ro thương mại khi xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ.

Việt Nam thuộc nhóm hàng hóa chịu mức thuế 12,5%

Theo Bản ghi nhớ, Việt Nam là một trong 60 nền kinh tế được USTR điều tra theo Mục 301 để xem xét việc chưa ban hành hoặc chưa thực thi hiệu quả lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức. Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 60 trong danh sách các nền kinh tế thuộc phạm vi điều tra.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương được vận hành tập trung tại địa chỉ www.VeriGoods.vn
Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương được vận hành tập trung tại địa chỉ www.VeriGoods.vn

Bản ghi nhớ quy định mức thuế 10% đối với hàng hóa từ các nền kinh tế đã có cơ chế cấm, có cam kết thiết lập cơ chế cấm hoặc đã áp dụng một phần các biện pháp ngăn chặn hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức. Đối với các nền kinh tế còn lại, USTR được chỉ đạo áp dụng mức thuế 12,5% theo Mục 301.

Theo cách phân loại này, hàng hóa có xuất xứ Việt Nam thuộc nhóm áp dụng mức thuế 12,5%, trừ các sản phẩm được miễn theo Phụ lục của Bản ghi nhớ.

Đáng chú ý, Bản ghi nhớ nhấn mạnh đến hàng hóa được sản xuất "toàn bộ hoặc một phần" bằng lao động cưỡng bức. Điều này đồng nghĩa rủi ro không chỉ phát sinh ở công đoạn sản xuất cuối cùng mà còn có thể xuất phát từ nguyên liệu, linh kiện, bán thành phẩm hoặc bất kỳ mắt xích nào trong chuỗi cung ứng.

Hoa Kỳ siết kiểm soát chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt cần chủ động truy xuất nguồn gốc - ảnh 2

Bản ghi nhớ cũng đề cập cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với một số mặt hàng dệt may gắn với việc sử dụng bông và nguyên liệu dệt may của Hoa Kỳ nhằm giảm phụ thuộc vào các nguồn nguyên liệu có nguy cơ cao liên quan đến lao động cưỡng bức. Đây được xem là tín hiệu cho thấy yếu tố nguồn gốc nguyên liệu đầu vào ngày càng được coi trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Truy xuất nguồn gốc trở thành yêu cầu thiết yếu

Mặc dù Bản ghi nhớ không quy định trực tiếp quy trình truy xuất nguồn gốc đối với từng doanh nghiệp Việt Nam, nhưng để chứng minh sản phẩm không được sản xuất toàn bộ hoặc một phần bằng lao động cưỡng bức, doanh nghiệp phải có khả năng xác định và cung cấp thông tin đáng tin cậy về nguồn gốc nguyên liệu, nhà cung cấp, địa điểm sản xuất và các công đoạn hình thành sản phẩm.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng đối với các ngành có chuỗi cung ứng nhiều tầng, sử dụng nguyên liệu từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ như dệt may, da giày, điện tử, năng lượng, thiết bị điện, sản phẩm sử dụng linh kiện bán dẫn, khoáng sản và một số mặt hàng nông sản.

Đối với ngành dệt may, doanh nghiệp cần quản lý không chỉ khâu cắt, may và hoàn thiện sản phẩm mà còn phải truy xuất được nguồn gốc của bông, xơ, sợi, vải, thuốc nhuộm và các nguyên phụ liệu khác. Trong khi đó, các doanh nghiệp điện tử và năng lượng cần kiểm soát cả linh kiện, vật liệu bán dẫn, pin, tấm quang điện, khoáng sản và các nguyên liệu đầu vào quan trọng.

Quy định mới về truy xuất nguồn gốc của Bộ Công Thương

Ngày 11/6/2026, Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 31/2026/TT-BCT quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Theo quy định, việc truy xuất nguồn gốc là bắt buộc đối với sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương; đối với các nhóm hàng hóa khác, thương nhân được khuyến khích tự nguyện thực hiện.

Hoa Kỳ siết kiểm soát chuỗi cung ứng, doanh nghiệp Việt cần chủ động truy xuất nguồn gốc - ảnh 3

Thương nhân có thể lựa chọn khai báo trực tiếp trên Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương hoặc xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc nội bộ. Trường hợp xây dựng hệ thống riêng, hệ thống phải có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống truy xuất nguồn gốc của Bộ, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về bảo mật thông tin và an ninh mạng.

Hệ thống truy xuất nguồn gốc hàng hóa của Bộ Công Thương được vận hành tập trung tại địa chỉ www.VeriGoods.vn, thực hiện việc tiếp nhận, ghi nhận, lưu trữ và quản lý dữ liệu do thương nhân cập nhật, đồng thời tạo lập mã phục vụ hiển thị, tra cứu và liên kết dữ liệu.

Doanh nghiệp cần chủ động rà soát chuỗi cung ứng

Theo khuyến nghị, trước những thay đổi trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ và lộ trình triển khai Thông tư số 31/2026/TT-BCT, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và xuất khẩu cần chủ động rà soát, chuẩn hóa và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi cung ứng.

Doanh nghiệp cần lưu ý, phạm vi hàng hóa có nguy cơ bị Hoa Kỳ kiểm tra về lao động cưỡng bức, chuyển tải hoặc lẩn tránh biện pháp thương mại không hoàn toàn trùng với danh mục hàng hóa rủi ro cao của Việt Nam. Nhiều nguyên liệu như bông, xơ, sợi, linh kiện bán dẫn, pin lưu trữ, tấm quang điện và một số vật liệu đầu vào chưa được phân loại đồng nhất theo quy định trong nước, song vẫn có thể là đối tượng được thị trường nhập khẩu yêu cầu truy xuất sâu hơn.

Truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ thương hiệu.
Truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ thương hiệu.

Đối với hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp cần chủ động rà soát và lập bản đồ chuỗi cung ứng; thu thập, lưu giữ hồ sơ về nguồn gốc nguyên liệu và quá trình sản xuất; phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro; chuẩn hóa dữ liệu truy xuất theo từng sản phẩm hoặc lô hàng; kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa; bổ sung các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, lao động và xuất xứ trong hợp đồng với nhà cung cấp; đồng thời chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để sẵn sàng cung cấp khi cơ quan quản lý hoặc đối tác nhập khẩu yêu cầu xác minh.

Theo các chuyên gia, việc cung cấp thông tin chậm, thiếu nhất quán hoặc không chứng minh được mối liên hệ giữa chứng từ và hàng hóa thực tế có thể làm gia tăng nguy cơ lô hàng bị kiểm tra, tạm giữ hoặc từ chối nhập khẩu.

Truy xuất nguồn gốc là công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh

Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng siết chặt các yêu cầu về xuất xứ, lao động, môi trường và trách nhiệm trong chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà còn là công cụ giúp doanh nghiệp quản trị rủi ro, bảo vệ thương hiệu và nâng cao khả năng tiếp cận thị trường.

Việc chuẩn hóa dữ liệu, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc đối với nguyên liệu và sản phẩm, đồng thời bảo đảm tính chính xác, toàn vẹn của dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu pháp lý trong nước, giảm thiểu rủi ro thương mại, nâng cao uy tín hàng hóa Việt Nam và  bảo đảm sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế.



Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023

 
kinhdoanhvaphattrien.vn | 28/07/2026