ISSN-2815-5823
Đỗ Linh
Chủ Nhật, 15h03 04/10/2026

Thương mại hóa công nghệ: Khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến thị trường

(KDPT) - Hội thảo “Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo” năm 2026 chỉ ra khoảng cách đáng kể giữa nghiên cứu và thị trường khi trong 751 nhiệm vụ được rà soát, mới có 58 nhiệm vụ có khả năng thương mại hóa và 11 sản phẩm đã hoặc đang được thương mại hóa.

Chiều 3/10, tại Hà Nội, Cục Đổi mới sáng tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) phối hợp với Cục Sở hữu trí tuệ, Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia và các đơn vị liên quan tổ chức Hội thảo khoa học “Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo” năm 2026.

Sự kiện nằm trong khuôn khổ Tuần lễ công nghệ Việt Nam năm 2026, gắn với Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia năm 2026 (INNOVATION DAY 2026), tập trung vào kết nối nguồn cung công nghệ với nhu cầu doanh nghiệp, phát triển và khai thác tài sản trí tuệ, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ.

Khoảng cách lớn từ nghiên cứu đến thương mại hóa

Tại hội thảo, ông Phạm Việt Hồng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, cho biết hệ thống pháp luật về khoa học, công nghệ và sở hữu trí tuệ từng bước được hoàn thiện. Các quy định mới mở rộng quyền chủ động cho tổ chức chủ trì trong quyết định giá và lựa chọn phương thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu, tạo thêm cơ sở pháp lý để đưa công nghệ ra thị trường.

Ông Phạm Việt Hồng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.
Ông Phạm Việt Hồng, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo phát biểu tại hội thảo.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 cũng tạo cơ chế phân chia lợi ích rõ hơn. Khi kết quả nghiên cứu được thương mại hóa, tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi ích, tổ chức trung gian được hưởng tối thiểu 10%. Cơ chế này hướng tới tạo động lực cho nhà khoa học cùng các chủ thể tham gia quá trình chuyển giao công nghệ.

Dù hành lang pháp lý ngày càng hoàn thiện, số liệu thực tế cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu với thương mại hóa vẫn khá lớn. Kết quả rà soát tại 34 tỉnh, thành phố cho thấy, tính từ năm 2025 có 751 nhiệm vụ, 728 sản phẩm khoa học, công nghệ đang được triển khai, bên cạnh 280 sản phẩm dự kiến thực hiện trong năm 2026.

Đáng chú ý, trong 751 nhiệm vụ mới có 58 nhiệm vụ hoàn thành, có khả năng thương mại hóa, tương đương 7,7%. Số sản phẩm đã hoặc đang được thương mại hóa trên thị trường mới đạt 11 sản phẩm, chiếm khoảng 1,5%.

Theo ông Phạm Việt Hồng, một nguyên nhân đáng chú ý là doanh nghiệp chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo. Khi nghiên cứu được hình thành trước rồi mới tìm kiếm nơi tiếp nhận, sản phẩm có thể gặp khoảng cách với nhu cầu thị trường, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng sản xuất quy mô lớn hoặc hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp đặt ra.

Do đó, mối liên kết giữa Nhà nước, viện trường và doanh nghiệp cần được hình thành ngay từ đầu. Doanh nghiệp có thể đưa ra bài toán thực tế, tham gia đồng đầu tư, thử nghiệm và tiếp nhận công nghệ; viện trường tập trung phát triển tri thức, công nghệ đáp ứng nhu cầu; Nhà nước kiến tạo thể chế, xây dựng hạ tầng, đặt hàng và hỗ trợ mở rộng thị trường.

Tăng vai trò doanh nghiệp, tổ chức trung gian

Để rút ngắn khoảng cách giữa cung và cầu công nghệ, vai trò của các tổ chức trung gian được các đại biểu đặc biệt nhấn mạnh. Ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Trung tâm Thúc đẩy phát triển thị trường khoa học và công nghệ, Cục Đổi mới sáng tạo, cho rằng việc có nguồn cung công nghệ và nhu cầu của doanh nghiệp chưa đồng nghĩa giao dịch chuyển giao có thể hình thành ngay.

Theo ông Thành, tổ chức trung gian cần tham gia từ khâu nhận diện, chuẩn hóa thông tin cung - cầu, tìm kiếm đối tác, đánh giá mức độ phù hợp và hỗ trợ thử nghiệm công nghệ.

Khi tiến tới giao dịch, các tổ chức này tiếp tục tư vấn phương án chuyển giao, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, ứng dụng và từng bước làm chủ công nghệ trong điều kiện sản xuất thực tế.

Đây cũng là mắt xích giúp doanh nghiệp giải đáp những vấn đề quan trọng trước khi đầu tư như mức độ hoàn thiện của công nghệ, chi phí, khả năng tích hợp vào dây chuyền hiện hữu, quy mô thị trường và tiêu chuẩn kỹ thuật.

Quang cảnh hội thảo.
Quang cảnh hội thảo.

Ông Nguyễn Văn Thành cho rằng cần phát triển đa dạng tổ chức trung gian công lập và ngoài công lập, đồng thời đầu tư hạ tầng phục vụ thử nghiệm, trình diễn công nghệ. Hiệu quả của các tổ chức này cần được đánh giá dựa trên kết quả ứng dụng thực tế, thay vì chỉ dừng ở số lượng sự kiện kết nối hoặc số lượt doanh nghiệp, viện trường tham gia.

Ở góc độ viện trường, PGS.,TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng khó có một mô hình liên kết “ba nhà” phù hợp với mọi công nghệ.

Tùy từng giai đoạn phát triển, mức độ hoàn thiện công nghệ, khả năng tài chính và nhu cầu thị trường, các bên có thể lựa chọn nhiều phương thức hợp tác như doanh nghiệp đặt hàng viện trường nghiên cứu, cùng đầu tư phát triển sản phẩm, chuyển giao hoặc cấp quyền sử dụng công nghệ, thành lập doanh nghiệp spin-off, xây dựng phòng thí nghiệm hợp tác hay không gian thử nghiệm.

Theo ông Trương Ngọc Kiểm, liên kết đổi mới sáng tạo cũng cần mở rộng ra ngoài ba chủ thể truyền thống. Nhà khoa học, người học, nhà đầu tư, tổ chức trung gian, khách hàng và cộng đồng đều có thể tham gia chuỗi hình thành giá trị.

Gỡ nút thắt định giá tài sản trí tuệ

Một nội dung khác được đặt ra tại hội thảo là bài toán định giá tài sản trí tuệ, khâu có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đưa sáng chế trở thành tài sản có thể giao dịch và khai thác thương mại.

ThS. Đinh Thị Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thẩm định giá VNG Việt Nam, cho rằng định giá không chỉ là phép tính tài chính ở giai đoạn cuối trước khi ký hợp đồng mà là quá trình nhận diện, lượng hóa và quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu tích lũy xuyên suốt.

ThS. Đinh Thị Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thẩm định giá VNG Việt Nam.
ThS. Đinh Thị Hà, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thẩm định giá VNG Việt Nam.

Theo bà Hà, ba điểm nghẽn lớn hiện nay gồm đứt gãy dữ liệu, tách rời hồ sơ kỹ thuật với dữ liệu thương mại và sai lầm nhận thức khi đồng nhất chi phí R&D với giá trị tài sản và giá đàm phán giao dịch.

Một trường hợp được đưa ra làm ví dụ là việc định giá bằng độc quyền sáng chế thiết bị cơ - điện tại một nhà máy xử lý phụ phẩm. Việc chuyển đổi nguyên lý từ “đổ đống - bốc xúc bằng 3 máy xúc lật” sang “lưu chứa silo - điều tiết rung - xả trực tiếp” giúp nhà máy cắt giảm đội máy xúc, giảm nhân công và nhiên liệu, mang lại lợi ích ròng 15,5 tỷ đồng/năm.

Từ dữ liệu vận hành thực tế, tài sản trí tuệ này được định giá theo phương pháp tiếp cận thu nhập, dựa trên chi phí tránh được.

Không phải cứ có bằng sáng chế là có công nghệ hoàn chỉnh

ThS. Phùng Minh Hải, Phó Trưởng phòng Phòng Quản trị tài sản trí tuệ, Viện Sở hữu trí tuệ Quốc gia, cũng chỉ ra khoảng cách từ bảo hộ sáng chế đến thị trường.

Mặc dù số lượng đơn đăng ký sáng chế toàn cầu không ngừng tăng trưởng (đạt khoảng 3,7 triệu đơn trong năm 2024), tại Việt Nam, con số này vẫn còn rất khiêm tốn với 1.226 đơn đăng ký của người cư trú (resident) năm 2024. Thống kê cho thấy từ năm 2025 đến hết 6 tháng đầu năm 2026, có 1.573 văn bằng bảo hộ được cấp, trong đó khối doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất (40,6%), tiếp theo là các trường đại học (22,3%), cá nhân (19,9%) và viện nghiên cứu (15,3%).

Theo ThS. Phùng Minh Hải, một số chủ thể vẫn có những nhận thức chưa đúng về sáng chế và thương mại hóa.

Trong đó, việc có bằng độc quyền sáng chế mới dừng ở bảo hộ một giải pháp kỹ thuật, không đồng nghĩa đã có một sản phẩm hay quy trình sản xuất thương mại hoàn chỉnh.

Bên cạnh đó, chủ sở hữu cần hiểu đúng phạm vi và hiệu lực bảo hộ, tính đến khả năng đối thủ sử dụng thiết kế tránh và không nên đồng nhất chi phí R&D đã bỏ ra với giá trị kinh tế của sáng chế.

Khảo sát nhu cầu kết nối cho thấy, có tới 68–78% đại biểu quan tâm đến các sáng chế mang tính ứng dụng cao như phụ gia đốt nhiên liệu rắn, gạch đất không nung, hay công nghệ nanocellulose lọc nước và bụi PM2.5. Các thiết bị sấy nông sản đa năng (55,6%) và lọc nước sinh hoạt (41,7%) cũng nằm trong tốp đầu được thị trường tìm kiếm.

Hạ tầng công nghệ hỗ trợ thương mại hóa

Ở góc độ hạ tầng phục vụ nghiên cứu và phát triển, TS. Trần Thế Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Công nghệ FPT, Phó Giám đốc Khối sản phẩm AI, FPT Smart Cloud, Tập đoàn FPT, cho rằng AI, Cloud Computing, IoT và Big Data là những công cụ hạ tầng cốt lõi giúp nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo để vượt bẫy thu nhập trung bình.

PGS.,TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại hội thảo.
PGS.,TS. Trương Ngọc Kiểm, Giám đốc Công viên Công nghệ cao và Đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu tại hội thảo.

Để hiện thực hóa điều này, FPT đã đầu tư xây dựng tổ hợp hạ tầng công nghệ toàn diện. Nổi bật là hệ thống FPT AI Factory được trang bị các dòng GPU NVIDIA tiên tiến nhất (HGX B300, H200, H100), kết hợp cùng nền tảng FPT Token Factory. Hạ tầng này cho phép rút ngắn tối đa quy trình từ nghiên cứu, thử nghiệm bản sao số (Digital Twin), đánh giá PoC cho đến sản xuất thương mại. Đến nay, hệ sinh thái AI của FPT đã cung cấp 43 dịch vụ, thúc đẩy hơn 20 startup AI, thu hút hơn 18.800 nhà nghiên cứu/phát triển và hỗ trợ xây dựng trên 60 mô hình ngôn ngữ lớn (LLM).

Hội thảo “Kết nối công nghệ và đổi mới sáng tạo” đã phác họa một bức tranh toàn cảnh và thẳng thắn về thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam. Muốn đưa các kết quả nghiên cứu bước ra khỏi phòng thí nghiệm thành công, Việt Nam cần một chiến lược đồng bộ: nâng cao nhận thức chuẩn xác về sở hữu trí tuệ, minh bạch và chuẩn hóa dữ liệu để định giá tài sản trí tuệ, phát triển mạng lưới trung gian chuyên nghiệp và đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng tính toán hiện đại.



Kinh doanh và Phát triển

Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023

 
kinhdoanhvaphattrien.vn | 04/10/2026