ISSN-2815-5823
Linh Linh
Thứ Năm, 17h57 24/09/2026

Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số: Không để phát sinh thêm 'nút thắt' mới

(KDPT) - Các chuyên gia, cơ quan quản lý và địa phương cùng nhận diện những vướng mắc về dữ liệu, thể chế, hạ tầng, nhân lực và nguồn lực tại tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”.

Sáng 24/9 tại Hà Nội, Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) và Tạp chí điện tử VietTimes tổ chức tọa đàm “Gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”. Đây là sự kiện hưởng ứng chiến dịch “100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số quốc gia”, hướng tới Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam (Vietnam Digital Awards  - VDA) lần thứ 9, dự kiến diễn ra vào trung tuần tháng 10/2026.

Tham dự tọa đàm có đại diện các bộ, ngành Trung ương, địa phương, doanh nghiệp công nghệ, chuyên gia, nhà nghiên cứu và cơ quan báo chí.

Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phát biểu tại toạ đàm.
Ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông phát biểu tại toạ đàm.

Phát biểu khai mạc toạ đàm, ông Nguyễn Minh Hồng, Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông nhấn mạnh chưa bao giờ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số lại được đặt ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước như hiện nay. Những định hướng lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, đã xác định rõ đây là động lực chủ yếu để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo nền tảng đưa Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới.

Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo đó, chiến dịch “100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” đang được triển khai với quyết tâm cao trên phạm vi cả nước.

“Tọa đàm lần này chính là một hoạt động cụ thể, góp phần nhận diện và tháo gỡ những rào cản, khơi thông nguồn lực để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất”, ông Nguyễn Minh Hồng nói.

Khoảng cách giữa các bộ, ngành và địa phương

Tại tọa đàm, ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, chỉ ra sự chênh lệch đáng chú ý giữa các bộ, ngành và địa phương trong một số chỉ tiêu chuyển đổi số.

Trong 5 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành mới đạt hơn 5%, trong khi tại địa phương đạt 96%. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến ở các bộ, ngành đạt 34%, còn địa phương đạt 94%. Tỷ lệ hồ sơ được số hóa và có kết quả điện tử tương ứng là 19% và 89%.

Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ KHCN trình bày tham luận tại tọa đàm.
Ông Trần Kiên, Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ KHCN trình bày tham luận tại tọa đàm.

Theo ông Trần Kiên, việc số hóa dữ liệu nhưng không được kết nối, khai thác và tái sử dụng sẽ chưa tạo ra giá trị tương xứng. Từ thực tế triển khai, 6 nhóm điểm nghẽn của chuyển đổi số được nhận diện gồm dữ liệu; quy trình; nền tảng; hạ tầng và an toàn thông tin; nhân lực và trách nhiệm; đầu tư và tài chính.

Về dữ liệu, hiện 4/12 cơ sở dữ liệu trọng yếu và 39/104 cơ sở dữ liệu theo Nghị quyết 11 chưa được kết nối, đồng bộ. Một số dữ liệu chưa đáp ứng yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sống”, ảnh hưởng đến khả năng khai thác và tái sử dụng.

Trong cải cách quy trình, còn 80/775 thủ tục hành chính chưa được tái cấu trúc. Hệ thống nền tảng tại một số nơi còn phân tán, trùng lặp, trong khi khoảng 30% máy tính chưa đáp ứng yêu cầu về cấu hình.

Nguồn nhân lực chuyên trách cũng còn thiếu, kỹ năng chưa đồng đều và trách nhiệm cuối cùng trong một số khâu chưa được xác định rõ. Về nguồn lực tài chính, tiến độ chuẩn bị đầu tư còn chậm, cơ chế nghiệm thu và tính toán chi phí theo vòng đời chưa phù hợp. Đến ngày 17/6/2026, tỷ lệ giải ngân kinh phí chuyển đổi số mới đạt 12,1%.

VNeID trở thành điểm chạm số thống nhất

Tại tọa đàm, Đại tá Ngô Như Cường, Phó Giám đốc Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an, chia sẻ về quá trình phát triển VNeID và vai trò của nền tảng này trong hệ sinh thái số.

VNeID hiện cung cấp 85 tiện ích, ghi nhận hơn 500 triệu lượt truy cập và khoảng 6 triệu người sử dụng mỗi ngày. Nền tảng đã được tích hợp với nhiều cơ sở dữ liệu và dịch vụ, trong đó có 42,9 triệu hồ sơ sức khỏe điện tử, hơn 1,5 triệu hồ sơ lý lịch tư pháp, 20,2 triệu giấy phép lái xe, 7,4 triệu đăng ký phương tiện và 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế.Trong lĩnh vực hàng không, xác thực sinh trắc học đã được triển khai tại 19 sân bay với hơn 156.000 chuyến bay nội địa. Thời gian xử lý mỗi lượt khoảng 3-5 giây, qua đó ước tính tiết kiệm khoảng 46 tỷ đồng.

Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) trình bày tham luận tại tọa đàm.
Đại tá Ngô Như Cường, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06) trình bày tham luận tại tọa đàm.

Trong lĩnh vực ngân hàng, 268,7 triệu hồ sơ đã được đối soát, chia sẻ, góp phần giảm khoảng 60% gian lận và ước tính tiết kiệm khoảng 652 tỷ đồng mỗi năm.

VNeID cũng được triển khai tại các cơ sở y tế với khoảng 600 kiosk, hơn 2,2 triệu lượt đăng ký, ước tính tiết kiệm 50-75 tỷ đồng. Hơn 148 triệu bản ghi thuê bao viễn thông đã được làm sạch, đồng bộ, với giá trị phòng ngừa thiệt hại ước tính khoảng 3.000 tỷ đồng mỗi năm.

Tuy nhiên, đại diện C06 cho rằng VNeID vẫn còn 4 nhóm vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ, gồm thể chế; kết nối dữ liệu và hệ sinh thái; vai trò của công dân; định danh số xuyên biên giới.

Các định hướng được đặt ra gồm sửa đổi Luật Căn cước và Luật Giao dịch điện tử, xây dựng định hướng phát triển VNeID giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến 2045; xây dựng nghị quyết về phát triển công dân số và kết nối với hệ thống định danh điện tử của các quốc gia khác.

Địa phương đề xuất cơ chế tháo gỡ điểm nghẽn

Từ thực tiễn địa phương, ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn, cho biết quá trình chuyển đổi số còn gặp khó khăn về nhận thức, tài chính, kết nối, vận hành hệ thống và nhân lực công nghệ thông tin.

Theo ông Huy, việc xây dựng cơ sở dữ liệu cần gắn với yêu cầu quản lý và khai thác, sử dụng. Một số cơ sở dữ liệu còn khó kết nối, chia sẻ; việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đòi hỏi nguồn kinh phí lớn. Trong khi đó, hệ thống phân tán khiến công tác vận hành, bảo trì tiếp tục cần nguồn lực.

Đại diện Lạng Sơn đề xuất cần có định hướng và phân định trách nhiệm rõ hơn, đồng thời xây dựng các cơ chế hỗ trợ, đặc biệt là cơ chế hỗ trợ nguồn kinh phí theo hướng thống nhất, phù hợp với yêu cầu triển khai tại địa phương.

Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó giám đốc Sở KH&CN TP Đà Nẵng trình bày tham luận tại tọa đàm.
Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó giám đốc Sở KH&CN TP Đà Nẵng trình bày tham luận tại tọa đàm.

Trong khi đó, bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Đà Nẵng, cho rằng chuyển đổi số đang trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng và Đà Nẵng hướng tới mục tiêu phát triển thành thành phố AI.

Theo bà Quyên, quá trình chuyển đổi số của Đà Nẵng cho thấy 4 kinh nghiệm gồm quyết tâm của lãnh đạo; chính sách, pháp luật đặc thù; đầu tư hạ tầng đi trước; lấy lợi ích của người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

Đà Nẵng đề xuất tăng cường chia sẻ các cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung, mở rộng không gian thử nghiệm (sandbox) đối với tài sản số, blockchain và đô thị thông minh; có chính sách đặc thù thu hút chuyên gia AI, bán dẫn và phát triển visa cho nhân lực số.

Địa phương này cũng đề xuất đổi mới cách đo lường hiệu quả chuyển đổi số, tập trung hơn vào mức độ hài lòng, thời gian và chi phí tiết kiệm cho người dân, doanh nghiệp cũng như đóng góp của kinh tế số vào GRDP.

Bên cạnh những khó khăn, các đại biểu cũng chỉ ra nhiều điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi số như khung thể chế mới, hạ tầng 5G và internet, hơn 71 triệu tài khoản VNeID, nguồn dữ liệu công và Trung tâm Dữ liệu quốc gia, năng lực tính toán cùng sự tham gia ngày càng sâu của các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam.

Toàn cảnh toạ đàm.
Toàn cảnh toạ đàm.

Các mục tiêu đến năm 2030 gồm đưa Chính phủ số vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu; kinh tế số chiếm ít nhất 30% GDP; 100% hộ gia đình được phủ cáp quang; 100% cơ sở dữ liệu dùng chung được chuẩn hóa, sẵn sàng cho ứng dụng AI; hơn 70% người từ 18 tuổi có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu Chính phủ số thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu và kinh tế số đóng góp ít nhất 50% GDP.

Tại diễn đàn mở, các đại biểu từ cơ quan Trung ương, địa phương, doanh nghiệp và giới chuyên gia tiếp tục thảo luận về thể chế, dữ liệu, vai trò doanh nghiệp, ứng dụng Al và cách đo lường hiệu quả chuyển đổi số. Phần thảo luận "100 ngày gỡ một điểm nghẽn” tập trung vào các ưu tiên hành động cụ thể của cơ quan quản lý, địa phương và doanh nghiệp.

Phát biểu kết luận tại toạ đàm, ông Nguyễn Bá Kiên, Tổng Biên tập Tạp chí điện tử VietTimes khẳng định: “Các ý kiến tại tọa đàm đã nhận diện khá rõ và trúng các điểm nghẽn. Vấn đề quan trọng là gỡ các điểm nghẽn này như thế nào? Và quan trọng hơn, từ các nhận diện này, Chính phủ và hệ thống chính quyền các cấp không để phát sinh thêm các điểm nghẽn mới”. Ban Tổ chức cho biết toàn bộ ý kiến, kiến nghị tại tọa đàm sẽ được tổng hợp thành báo cáo khuyến nghị chính sách gửi các cơ quan chức năng, góp phần thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.



Kinh doanh và Phát triển

Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023

 
kinhdoanhvaphattrien.vn | 16/10/2026