LỜI TÒA SOẠN
Trong gần bốn thập kỷ đổi mới, khu công nghiệp đã trở thành một trong những động lực quan trọng của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ những khu công nghiệp đầu tiên được hình thành vào đầu thập niên 1990 đến nay, Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới hàng trăm khu công nghiệp, khu kinh tế trên cả nước, góp phần thu hút hàng trăm tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho hàng triệu lao động và đưa Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Những thành tựu đó là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển của đất nước đang bước sang một giai đoạn mới. Cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng quyết liệt. Xu hướng chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, trí tuệ nhân tạo và yêu cầu giảm phát thải carbon đang làm thay đổi cách các tập đoàn quốc tế lựa chọn địa điểm đầu tư. Cùng với đó, yêu cầu nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và làm chủ công nghệ ngày càng trở thành những nhiệm vụ mang tính chiến lược.
Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới, xác lập một tư duy phát triển mới: Thu hút FDI không chỉ để bổ sung nguồn lực cho tăng trưởng, mà còn phải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp trong nước và tăng cường tính tự chủ của nền kinh tế.
Nếu mục tiêu phát triển đã thay đổi, câu hỏi đặt ra là: Khu công nghiệp Việt Nam sẽ phải thay đổi như thế nào để đáp ứng những yêu cầu mới?
Đây không chỉ là câu chuyện của các nhà hoạch định chính sách hay các cơ quan quản lý nhà nước. Đó còn là câu hỏi đối với các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp - những chủ thể trực tiếp tổ chức không gian sản xuất, kết nối doanh nghiệp và hiện thực hóa các mục tiêu phát triển trên thực địa.
Xuất phát từ góc nhìn đó, chuyên đề này là diễn đàn đối thoại chính sách, với cách tiếp cận đa chiều, quy tụ các chuyên gia kinh tế, nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng doanh nhân. Mở đầu chuyên đề là chuỗi longform 4 phần trong chương trình bàn tròn với TS. Phạm Hồng Điệp, chuyên gia về phát triển khu công nghiệp sinh thái và kinh tế tuần hoàn, người đã có gần hai thập kỷ trực tiếp tham gia phát triển Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền - một trong những mô hình khu công nghiệp sinh thái đầu tiên của Việt Nam.
Thông qua các bài viết, chuyên đề không nhằm bình luận toàn diện về Nghị quyết 10, mà tập trung vào một câu hỏi cụ thể: Trong bối cảnh phát triển mới, khu công nghiệp Việt Nam cần thay đổi điều gì để không chỉ tiếp tục thu hút đầu tư, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và phát triển bền vững?
Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của toàn bộ chuyên đề.
Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị không chỉ đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài, mà còn mở ra một cách tiếp cận mới về phát triển khu công nghiệp. Theo TS. Phạm Hồng Điệp, nếu trước đây lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp được tạo nên từ quỹ đất và hạ tầng kỹ thuật, thì trong giai đoạn mới, lợi thế sẽ được quyết định bởi khả năng kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp Việt Nam và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
PV: Thưa ông, nhiều ý kiến cho rằng Nghị quyết 10 đánh dấu một bước chuyển trong tư duy thu hút FDI của Việt Nam. Theo ông, điều thay đổi lớn nhất là gì?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, điểm thay đổi quan trọng nhất không nằm ở việc chúng ta sẽ thu hút thêm bao nhiêu dự án đầu tư, mà nằm ở cách chúng ta nhìn nhận vai trò của FDI trong quá trình phát triển đất nước.
Trong nhiều năm qua, FDI đã đóng góp rất lớn cho tăng trưởng kinh tế, mở rộng năng lực sản xuất, tạo việc làm và thúc đẩy xuất khẩu. Những thành tựu đó là rất rõ ràng.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế bước sang giai đoạn phát triển mới, mục tiêu không còn chỉ là tăng quy mô đầu tư, mà là nâng cao chất lượng tăng trưởng. Điều đó đòi hỏi dòng vốn đầu tư nước ngoài phải tạo ra nhiều giá trị lan tỏa hơn đối với doanh nghiệp trong nước, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Theo tôi, đây chính là tư tưởng cốt lõi của Nghị quyết 10. Nói cách khác, FDI không còn được nhìn nhận đơn thuần là nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng, mà trở thành một động lực để nâng cao năng lực phát triển của Việt Nam.
PV: Sự thay đổi trong tư duy thu hút FDI sẽ tác động như thế nào đến mô hình phát triển khu công nghiệp?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, đây là sự thay đổi có tính nền tảng. Nếu mục tiêu của thu hút đầu tư thay đổi thì mô hình khu công nghiệp cũng phải thay đổi.
Trong nhiều năm qua, lợi thế cạnh tranh của khu công nghiệp chủ yếu dựa trên ba yếu tố: quỹ đất, vị trí địa lý và hạ tầng kỹ thuật. Những yếu tố này vẫn rất quan trọng, nhưng sẽ không còn là lợi thế quyết định.
Hiện nay, khi lựa chọn địa điểm đầu tư, các tập đoàn quốc tế quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của môi trường đầu tư. Họ không chỉ đánh giá hệ thống giao thông hay nguồn điện, mà còn xem xét khả năng tiếp cận năng lượng sạch, chất lượng nguồn nhân lực, mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp hỗ trợ, năng lực quản trị ESG, hạ tầng số và khả năng kết nối với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Điều đó có nghĩa rằng, khu công nghiệp không thể chỉ cung cấp mặt bằng sản xuất.
Theo tôi, khu công nghiệp cần tạo dựng một môi trường để doanh nghiệp có thể phát triển lâu dài. Đó là sự chuyển dịch từ phát triển hạ tầng sang phát triển hệ sinh thái.
PV: Ông nhiều lần nhắc đến khái niệm "hệ sinh thái". Theo ông, điều này cần được hiểu như thế nào trong bối cảnh chung về khu công nghiệp?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, hệ sinh thái công nghiệp trước hết là một môi trường mà ở đó các doanh nghiệp không phát triển riêng lẻ. Họ có điều kiện hợp tác, chia sẻ nguồn lực, học hỏi lẫn nhau và cùng nâng cao năng lực cạnh tranh.
Sự liên kết đó có thể diễn ra dưới nhiều hình thức. Đó có thể là liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng. Hoặc là sự hợp tác giữa doanh nghiệp với trường đại học và viện nghiên cứu để phát triển công nghệ.
Hay việc chia sẻ hạ tầng, tài nguyên hoặc từng bước hình thành các chuỗi cộng sinh công nghiệp nhằm sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực.
Trên thế giới, cách tiếp cận này đã được UNIDO và nhiều tổ chức quốc tế thúc đẩy thông qua mô hình khu công nghiệp sinh thái, trong đó hiệu quả của khu công nghiệp được đánh giá không chỉ bằng hạ tầng vật chất mà còn bằng chất lượng quản trị và mức độ hợp tác giữa các doanh nghiệp.
PV: Như vậy, vai trò của chủ đầu tư khu công nghiệp cũng sẽ thay đổi?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Tôi nghĩ là có. Nếu trước đây chủ đầu tư chủ yếu xây dựng hạ tầng và cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp thì trong giai đoạn mới, vai trò đó sẽ rộng hơn.
Theo tôi, chủ đầu tư cần trở thành người tổ chức hệ sinh thái. Điều đó không có nghĩa là làm thay doanh nghiệp, mà là tạo ra các điều kiện để doanh nghiệp kết nối với nhau, tiếp cận khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, chia sẻ thông tin và cùng thích ứng với những yêu cầu mới của thị trường.
Trong quá trình phát triển Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền, chúng tôi cũng từng bước tiếp cận theo hướng đó thông qua việc thúc đẩy cộng sinh công nghiệp, xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ quản trị ESG và kết nối các doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
Đó mới chỉ là những bước đi ban đầu, nhưng từ thực tiễn đó, tôi nhận thấy giá trị lớn nhất không nằm ở từng giải pháp riêng lẻ, mà ở việc hình thành một môi trường để doanh nghiệp cùng phát triển. Theo tôi, đây là vai trò mà nhiều khu công nghiệp của Việt Nam sẽ hướng tới trong thời gian tới.
PV: Theo ông, đâu sẽ là thước đo thành công của khu công nghiệp trong giai đoạn tới?
TS. Phạm Hồng Điệp: Theo tôi, những chỉ tiêu như tỷ lệ lấp đầy hay giá trị đầu tư vẫn rất cần thiết. Nhưng có lẽ sẽ không còn là những thước đo duy nhất. Điều quan trọng hơn là khu công nghiệp đã tạo ra được những giá trị gì cho nền kinh tế. Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam trưởng thành trong hệ sinh thái đó? Có bao nhiêu công nghệ mới được lan tỏa? Có bao nhiêu sáng kiến đổi mới sáng tạo được hình thành?
Nguồn nhân lực được nâng cao đến đâu? Mức độ sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn như thế nào? Nếu trả lời được những câu hỏi đó, theo tôi, chúng ta sẽ có một cách nhìn đầy đủ hơn về giá trị của khu công nghiệp trong giai đoạn phát triển mới.
Đó cũng là tinh thần mà tôi cảm nhận được từ Nghị quyết 10. Bởi cuối cùng, mục tiêu của thu hút đầu tư không chỉ là tạo ra thêm các dự án, mà là góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế Việt Nam.
PV: Một trong những mục tiêu quan trọng của Nghị quyết số 10-NQ/TW là phát huy hiệu quả lan tỏa của khu vực đầu tư nước ngoài đối với doanh nghiệp trong nước. Vậy, để hiện thực hóa mục tiêu đó, khu công nghiệp cần được nhìn nhận không chỉ là nơi tiếp nhận các dự án FDI, mà còn là môi trường giúp doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng cao năng lực công nghệ, quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này có ý nghĩa như thế nào, thưa ông?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, đây là một trong những điểm quan trọng nhất của Nghị quyết 10.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã rất thành công trong thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, điều mà nền kinh tế cần hướng tới trong giai đoạn mới không chỉ là có thêm nhiều dự án FDI, mà là làm sao để khu vực doanh nghiệp trong nước có thể phát triển cùng với dòng vốn đó.
Đây là sự chuyển dịch từ tư duy thu hút đầu tư sang phát triển năng lực.
Bởi suy cho cùng, sức mạnh của một nền kinh tế không chỉ được quyết định bởi số lượng doanh nghiệp FDI đang hoạt động, mà còn bởi năng lực của chính các doanh nghiệp trong nước.
Nếu doanh nghiệp Việt Nam từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì những giá trị mà FDI mang lại sẽ bền vững hơn rất nhiều.
PV: Nhưng trên thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp khó khăn khi tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia. Theo ông, đâu là nguyên nhân?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, nguyên nhân không nằm ở việc doanh nghiệp Việt Nam thiếu quyết tâm.
Phần lớn doanh nghiệp đều mong muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn quốc tế.
Tuy nhiên, để tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp cần đáp ứng đồng thời rất nhiều yêu cầu về công nghệ, chất lượng sản phẩm, quản trị, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội và khả năng giao hàng ổn định.
Đây đều là những năng lực cần thời gian để tích lũy.
Chính vì vậy, theo tôi, việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu không nên được nhìn nhận như một mục tiêu phải đạt ngay, mà là kết quả của một quá trình nâng cao năng lực doanh nghiệp.
Nếu chúng ta chỉ tập trung vào kết quả cuối cùng mà chưa đầu tư đúng mức cho quá trình đó thì sẽ rất khó tạo ra sự chuyển biến bền vững.
PV: Theo ông, khu công nghiệp có thể đóng vai trò gì trong quá trình nâng cao năng lực doanh nghiệp Việt Nam?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Theo tôi, đây là vai trò đang ngày càng trở nên quan trọng. Nếu trước đây, khu công nghiệp chủ yếu cung cấp hạ tầng phục vụ sản xuất thì trong giai đoạn mới, khu công nghiệp có thể trở thành môi trường thúc đẩy sự học hỏi và liên kết giữa các doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, khi doanh nghiệp hoạt động trong cùng một hệ sinh thái, cơ hội hợp tác sẽ lớn hơn rất nhiều. Doanh nghiệp FDI có điều kiện tìm kiếm nhà cung ứng ngay trong khu công nghiệp. Doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội tiếp cận sớm hơn với các yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn quốc tế và phương thức quản trị tiên tiến.
Các trường đại học, viện nghiên cứu và tổ chức tư vấn cũng dễ dàng tham gia hỗ trợ doanh nghiệp hơn khi có một đầu mối kết nối.
Theo tôi, giá trị lớn nhất của khu công nghiệp trong tương lai không chỉ nằm ở việc tạo ra mặt bằng sản xuất, mà còn ở khả năng kết nối những nguồn lực đó.
PV: Ông có thể chia sẻ một kinh nghiệm thực tiễn từ quá trình phát triển Khu công nghiệp Nam Cầu Kiền?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Điều chúng tôi rút ra sau nhiều năm triển khai là doanh nghiệp sẽ hợp tác hiệu quả hơn khi có một cơ chế kết nối phù hợp.
Tại Nam Cầu Kiền, bên cạnh việc đầu tư hạ tầng, chúng tôi từng bước hình thành Câu lạc bộ Doanh nghiệp sinh thái (Eco Club), tạo diễn đàn để các doanh nghiệp trong khu công nghiệp gặp gỡ, chia sẻ thông tin và tìm kiếm cơ hội hợp tác.
Từ quá trình đó, một số chuỗi cộng sinh công nghiệp đã từng bước hình thành trong các lĩnh vực thép, nhựa và điện - điện tử, giúp doanh nghiệp tận dụng tốt hơn nguồn nguyên liệu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Theo tôi, giá trị lớn nhất của những mô hình này không chỉ nằm ở yếu tố môi trường hay tiết kiệm chi phí. Quan trọng hơn, nó tạo ra một môi trường để doanh nghiệp hình thành niềm tin, tăng cường hợp tác và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đó cũng là điều mà chúng tôi cho rằng nhiều khu công nghiệp khác hoàn toàn có thể tham khảo, với những mô hình phù hợp với điều kiện của mình.
PV: Ở góc độ nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, trong bối cảnh hiện nay, đâu là điều quan trọng nhất cần hướng tới khi triển khai Nghị quyết 10, thưa ông?
TS. Phạm Hồng Điệp:
Điều quan trọng nhất không nằm ở việc thu hút được thêm bao nhiêu dự án FDI, mà là chuẩn bị được một nền tảng hạ tầng và hệ sinh thái đủ năng lực để tiếp nhận một thế hệ đầu tư mới.
Các nhà đầu tư quốc tế ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng của hệ sinh thái đầu tư: từ năng lượng sạch, hạ tầng số, quản trị ESG, khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước cho đến nguồn nhân lực và môi trường đổi mới sáng tạo.
Điều đó cũng đặt ra yêu cầu mới đối với các doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp.
Theo tôi, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp không chỉ là những đơn vị đầu tư hạ tầng, mà cần từng bước trở thành người tổ chức và kết nối hệ sinh thái phát triển, tạo điều kiện để doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam có thể hợp tác, chia sẻ giá trị và cùng nâng cao năng lực cạnh tranh.
Mục tiêu cuối cùng của Nghị quyết 10 không chỉ là thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, mà là thông qua dòng vốn đó để nâng cao nội lực của nền kinh tế. Khi khu công nghiệp trở thành nơi kết nối công nghệ, doanh nghiệp Việt Nam, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh, thì giá trị mà FDI mang lại sẽ không dừng ở những dự án đầu tư riêng lẻ, mà sẽ chuyển hóa thành năng lực phát triển bền vững của quốc gia.
Mời quý độc giả đón đọc Bài 2: Khu công nghiệp sẽ như thế nào sau Nghị quyết 10?