Phú Thọ đánh thức “mỏ vàng” khoáng sản: Từ lợi thế tài nguyên thành động lực tăng trưởng
Phú Thọ có không gian khoáng sản đa dạng
Nếu trước đây tiềm năng khoáng sản được nhìn nhận theo phạm vi từng địa phương thì sau hợp nhất, Phú Thọ mới có điều kiện tiếp cận nguồn tài nguyên theo một không gian liên vùng rộng lớn hơn. Đặc điểm đáng chú ý là ba khu vực Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình cũ có cơ cấu tài nguyên khá bổ trợ cho nhau.
Khu vực Phú Thọ cũ nổi bật với nhóm khoáng sản công nghiệp và vật liệu xây dựng. Tỉnh có tới 28 mỏ caolin với trữ lượng khoảng 30 triệu tấn; 6 mỏ fenspat khoảng 5 triệu tấn; cát vàng sông Lô khoảng hơn 31 triệu m³; đá xây dựng khoảng 930 triệu m³; keramzit khoảng gần 50 triệu tấn; quăczit khoảng trên dưới 10 triệu tấn, cùng than bùn, talc, nước khoáng và một số loại khoáng sản khác. (Theo số liệu của Phòng khoáng sản, sở Nông nghiệp và Môi trường Phú Thọ).
Toàn tỉnh có 683 điểm mỏ khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh, trong đó 207 điểm mỏ đã được cấp phép, 476 điểm mỏ chưa được cấp phép. Các điểm mỏ này đã được tích hợp vào Quy hoạch tỉnh của 3 địa phương trước sáp nhập, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về địa chất, khoáng sản trên phạm vi toàn tỉnh.
Trong 207 điểm mỏ và điểm quặng, bao gồm khoáng sản caolin, fenspat, cát sỏi sông Lô và đá xây dựng được đánh giá là những nhóm có ưu thế về trữ lượng, chất lượng. Tuy nhiên, đặc điểm phân bố của nhiều mỏ là không tập trung, quy mô không đồng đều, chất lượng ở một số khu vực chưa ổn định, làm tăng chi phí đầu tư và đặt ra yêu cầu phải lựa chọn rất kỹ các khu vực đủ điều kiện phát triển quy mô công nghiệp.
Trong khi đó, ở địa bàn Vĩnh Phúc cũ có thế mạnh đáng kể về nhóm khoáng sản phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp. Các tài liệu quy hoạch cho thấy địa bàn này có khoảng trên dưới 4 triệu tấn cao lanh, tập trung tại Tam Dương, Vĩnh Yên, Lập Thạch như các mỏ puzolan với tổng trữ lượng khoảng 4,2 triệu tấn; các mỏ sét gạch ngói khoảng 51,8 triệu m³; các mỏ cát sỏi khoảng 4,75 triệu m³; các mỏ đá xây dựng và đá ốp lát với tổng trữ lượng khoảng 307 triệu m³; cùng các nguồn đá ong và fenspat.
Điểm mạnh của khu vực Vĩnh Phúc không chỉ nằm ở tài nguyên mà còn ở vị trí gần Hà Nội, hệ thống công nghiệp phát triển và nhu cầu vật liệu xây dựng lớn. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để chuyển từ khai thác tài nguyên đơn thuần sang hình thành chuỗi cung ứng nguyên liệu - chế biến - sản xuất vật liệu - tiêu thụ ngay trong vùng.
Còn tại Hòa Bình cũ đem lại một cấu trúc tài nguyên có tính chất khác biệt hơn. Địa bàn này được đánh giá có nhiều loại khoáng sản như đá vôi xi măng, đá vôi xây dựng, đá ốp lát, vàng, nước khoáng - nóng, than, pyrit, phosphorit, dolomit, talc, sắt, đồng, chì, kẽm...
Đặc biệt, đá vôi và đá xây dựng là nhóm tài nguyên có ý nghĩa lớn đối với công nghiệp vật liệu xây dựng. Riêng số liệu được Hòa Bình công bố cho thấy tổng trữ lượng đá làm vật liệu xây dựng đã cấp theo giấy phép khai thác đạt khoảng 327,83 triệu m³, với tổng công suất thiết kế khoảng 9,21 triệu m³/năm; trong đó Lương Sơn là khu vực tập trung rất lớn, với khoảng 248,77 triệu m³ được cấp theo giấy phép và 44 mỏ đá.
Như vậy, xét trên tổng thể, Phú Thọ đang sở hữu một “bản đồ khoáng sản đa tầng”: caolin, fenspat, puzolan và khoáng chất công nghiệp tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến; đá vôi, đá xây dựng, sét, cát sỏi đáp ứng nhu cầu hạ tầng và vật liệu; nước khoáng - nóng mở ra hướng phát triển dịch vụ, du lịch chăm sóc sức khỏe; trong khi một số khoáng sản kim loại và khoáng chất đặc thù tạo dư địa cho công tác điều tra, đánh giá sâu hơn.
Lợi thế lớn nhất không nằm ở khai thác, mà ở chế biến sâu
Trong bối cảnh mới, lợi thế khoáng sản của Phú Thọ được đo bằng số lượng mỏ, sản lượng khai thác, đồng thời, phát huy giá trị khoáng sản nếu hình thành chuỗi giá trị sau khai thác.
Với caolin, chẳng hạn, việc bán nguyên liệu thô sẽ tạo ra giá trị thấp hơn nhiều so với chế biến thành nguyên liệu chất lượng cao cho gốm sứ, vật liệu chịu lửa, giấy, sơn, cao su, vật liệu kỹ thuật và các sản phẩm công nghiệp khác. Tương tự, fenspat có thể trở thành nguyên liệu quan trọng cho công nghiệp gốm sứ, kính và vật liệu mới nếu được tuyển, nghiền, phân loại và nâng cấp chất lượng bằng công nghệ phù hợp. Hiện tại, Phú Thọ đã có nhà đầu tư thực hiện dự án "Đầu tư khai thác, chế biến mỏ Kaolin-Felspat” thực hiện trên tổng diện tích 6,16 ha tại xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn và xã Thọ Văn, huyện Tam Nông (cũ), tỉnh Phú Thọ.
Quy hoạch khoáng sản Phú Thọ không nằm ngoài quy hoạch khoáng sản quốc gia, mục tiêu cũng đặt trọng tâm vào việc hạn chế và tiến tới chấm dứt khai thác những mỏ trữ lượng thấp, phân tán, nhỏ lẻ; đồng thời tập trung tài nguyên để hình thành các cụm mỏ có quy mô đủ lớn, đầu tư đồng bộ từ thăm dò, khai thác đến chế biến bằng công nghệ tiên tiến.
Đây là định hướng đặc biệt phù hợp với Phú Thọ mới. Thay vì cấp phép theo tư duy “có mỏ là khai thác”, tỉnh Phú Thọ đang hướng tới “có tài nguyên phải có phương án tạo giá trị”. Những dự án khai thác mới sẽ được xem xét đồng thời với năng lực chế biến, thị trường tiêu thụ, công nghệ, khả năng phục hồi môi trường và hiệu quả kinh tế - xã hội.
Đối với đá vôi, đá xây dựng và sét, hiện đang dần được gắn khai thác với các trung tâm sản xuất vật liệu xây dựng hiện đại, vật liệu xanh, vật liệu phục vụ các dự án giao thông và đô thị lớn. Đặc biệt, sự phát triển mạnh của hệ thống hạ tầng vùng Thủ đô và các hành lang liên kết Phú Thọ - Hà Nội - Hòa Bình - Lào Cai sẽ tạo ra nhu cầu lớn đối với vật liệu xây dựng, đất san lấp và các sản phẩm khoáng sản. Ở chiều ngược lại, chính nhu cầu này cũng đòi hỏi tỉnh Phú Thọ có năng lực kiểm soát chặt chẽ sản lượng khai thác, tránh tình trạng tài nguyên bị khai thác nhanh hơn khả năng tái tạo của hệ sinh thái.
Bên cạnh đó, kinh tế tuần hoàn trong ngành khoáng sản cũng được nêu ra, các loại phế thải từ khai thác và chế biến khoáng sản cần được nghiên cứu để tái sử dụng làm nguyên liệu cho vật liệu xây dựng, san nền hoặc những sản phẩm phù hợp, thay vì trở thành chất thải phải xử lý. Đây cũng là hướng mà quy hoạch khoáng sản và vật liệu xây dựng hiện nay đang nhấn mạnh.
Quản lý tài nguyên phải đi trước một bước
Tiềm năng càng lớn thì yêu cầu quản lý càng cao. Thực tế ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình trước hợp nhất cho thấy hoạt động khai thác khoáng sản vừa tạo nguồn thu, việc làm và nguyên liệu cho sản xuất, vừa tiềm ẩn những vấn đề về môi trường, đất đai, giao thông, an toàn lao động và khai thác trái phép.
Tại Phú Thọ cũ, từng có hàng trăm giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản thuộc nhiều nhóm khác nhau. Các loại hình khai thác trải rộng từ caolin - fenspat, khoáng chất công nghiệp, sắt, đá xây dựng, đá sản xuất xi măng, sét gạch ngói đến cát sỏi lòng sông và nước khoáng nóng.
Với Vĩnh Phúc cũ, cơ quan chức năng đã nhiều lần ra văn bản tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng khai thác cát, đất trái phép và yêu cầu thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ khoáng sản chưa khai thác, quản lý cát sỏi lòng sông và phối hợp tại các khu vực giáp ranh.
Đây là vấn đề cần được quan tâm trong không gian tỉnh mới, trên các tuyến sông, vùng đồi núi, khu vực giáp ranh và các vùng có nhu cầu đất đá phục vụ xây dựng có thể trở thành những điểm nóng nếu công tác quản lý không theo kịp tốc độ phát triển hạ tầng.
Trước hết, tỉnh Phú Thọ cần hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về toàn bộ mỏ, điểm quặng, trữ lượng, chất lượng, giấy phép, công suất được cấp, sản lượng thực tế và nghĩa vụ môi trường của từng doanh nghiệp. Việc tích hợp dữ liệu địa chất với các nền tảng số sẽ giúp cơ quan quản lý phát hiện sớm dấu hiệu khai thác vượt công suất, khai thác ngoài ranh giới hoặc hoạt động trái phép.
Ảnh: Đức Hiền
Thứ hai, cần kiểm soát chặt từ khâu thăm dò, cấp phép đến đóng cửa mỏ và phục hồi môi trường. Một dự án khai thác khoáng sản không nên chỉ được đánh giá bằng tiền cấp quyền hay nguồn thu ngân sách, mà phải tính đầy đủ chi phí môi trường, hạ tầng, giao thông, phục hồi cảnh quan và tác động đến cộng đồng.
Thứ ba, cần phân loại rõ các nhóm tài nguyên. Khoáng sản có giá trị và tiềm năng chế biến sâu như caolin, fenspat, một số khoáng chất công nghiệp cần được ưu tiên đầu tư công nghệ. Khoáng sản làm vật liệu xây dựng cần khai thác theo nhu cầu thị trường, bảo đảm cân đối với quy hoạch đô thị, giao thông, nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ, chất lượng thấp cần hạn chế cấp phép tràn lan, tiến tới gom cụm hoặc bảo vệ để dành cho các giai đoạn sau khi công nghệ và điều kiện kinh tế phù hợp. Khoáng sản nằm trong khu vực nhạy cảm về sinh thái, rừng, di sản, nguồn nước hoặc gần khu dân cư cần được đặt dưới yêu cầu bảo vệ nghiêm ngặt.
Từ “tài nguyên dưới lòng đất” đến động lực công nghiệp mới
Hiện nay, tỉnh Phú Thọ có một lợi thế mà không phải địa phương nào cũng có: sự kết hợp giữa tài nguyên, thị trường, công nghiệp và hạ tầng trong cùng một không gian phát triển. Nếu khu vực Hòa Bình cung cấp thế mạnh về đá vôi, đá xây dựng, nước khoáng và một số khoáng sản kim loại; Vĩnh Phúc có lợi thế về vật liệu xây dựng, cao lanh, puzolan và vị trí gần trung tâm công nghiệp Hà Nội; thì Phú Thọ cũ nổi bật với caolin, fenspat, cát sỏi sông Lô, đá xây dựng và các khoáng chất công nghiệp.
Sự kết hợp này cho phép tỉnh hình thành chuỗi giá trị khoáng sản liên vùng, thay vì phát triển từng mỏ, từng huyện một cách rời rạc. Một hướng chiến lược có thể nghiên cứu là hình thành các cụm công nghiệp chế biến khoáng sản chuyên sâu, đặt gần vùng nguyên liệu nhưng có kết nối thuận lợi với đường bộ, đường thủy và các trung tâm tiêu thụ lớn. Trong đó, ưu tiên các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao thay cho xuất bán nguyên liệu thô.
Đối với nhóm đá xây dựng, cần hướng tới sản phẩm vật liệu có tiêu chuẩn cao phục vụ các dự án giao thông, đô thị và công nghiệp. Đối với caolin - fenspat, cần thu hút doanh nghiệp có công nghệ tuyển, phân loại và chế biến sâu, hướng tới chuỗi sản phẩm gốm sứ, vật liệu chịu lửa, kính và vật liệu công nghiệp. Đối với nước khoáng - nóng, cần nhìn nhận đây không chỉ là tài nguyên để khai thác đóng chai mà còn có thể kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe và dịch vụ chất lượng cao, đặc biệt tại các khu vực có điều kiện địa chất và cảnh quan phù hợp. Với những khoáng sản kim loại và khoáng chất đặc thù, nhiệm vụ trước mắt nên là tiếp tục điều tra, đánh giá chính xác trữ lượng, chất lượng và điều kiện khai thác. Không nên chạy theo sản lượng khi chưa đủ cơ sở về hiệu quả kinh tế và môi trường.
Phú Thọ đang đứng trước cơ hội biến nguồn tài nguyên khoáng sản thành một bộ phận quan trọng của nền công nghiệp hiện đại. Nhưng bài toán về cân bằng giữa khai thác - chế biến - môi trường - lợi ích cộng đồng đang đặt ra nhiều thách thức. Mục tiêu cuối cùng không phải là khai thác được bao nhiêu triệu tấn đá, bao nhiêu triệu tấn cao lanh hay bao nhiêu mét khối cát, mà là mỗi đơn vị tài nguyên được khai thác tạo ra bao nhiêu giá trị cho nền kinh tế và để lại bao nhiêu chi phí cho môi trường. Đó cũng là lý do quy hoạch khoáng sản hiện nay đặt yêu cầu khai thác tiết kiệm, sử dụng hiệu quả, ứng dụng công nghệ hiện đại, bảo vệ môi trường, giảm phát thải và tiến tới mô hình kinh tế tuần hoàn.
Quản lý chặt để không thất thoát tài nguyên; khai thác có chọn lọc để bảo vệ môi trường; chế biến sâu để nâng giá trị; liên kết vùng để mở rộng thị trường đây sẽ là bốn trụ cột quyết định khả năng Phú Thọ biến lợi thế khoáng sản thành một động lực tăng trưởng bền vững trong giai đoạn tới./.

