Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030
“Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030” được Báo Công Thương, Bộ Công thương tổ chức ngày 29/1/2026, tại Hà Nội. Tham dự diễn đàn có lãnh đạo Bộ Công Thương, đại diện các đơn vị chức năng thuộc Bộ, cơ quan của Quốc hội, cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học, đại diện hiệp hội và doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng…
Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia
Theo dự báo, tốc độ tăng nhu cầu năng lượng điện giai đoạn 2021-2025 của Việt Nam đạt khoảng 8% mỗi năm; giai đoạn 2026-2030, tăng 10-12% mỗi năm; giai đoạn 2030-2035 duy trì ở mức 7-7,5% mỗi năm. Mức tăng trưởng này đặt ra yêu cầu rất lớn về đầu tư hạ tầng năng lượng, đặc biệt là phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và các giải pháp phục vụ chuyển đổi năng lượng theo hướng bền vững.
Nói về định hướng phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030”, ông Trần Hoài Trang - Phó Cục trưởng Cục Điện lực, Bộ Công Thương cho biết, phát triển năng lượng được ưu tiên cao nhất để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng liên tục trên 10% trong giai đoạn tới. Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã nhấn mạnh, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia là nền tảng, là tiền đề quan trọng để phát triển đất nước, là bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia.
Chiến lược là phát triển đồng bộ, hợp lý và đa dạng hóa các loại hình năng lượng; ưu tiên khai thác, sử dụng triệt để và hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới, năng lượng sạch; khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước, chú trọng bình ổn, điều tiết và bảo đảm dự trữ năng lượng quốc gia; phát triển điện hạt nhân, điện khí; có lộ trình giảm tỉ trọng điện than một cách hợp lý. Cơ cấu tối ưu hệ thống năng lượng quốc gia, bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của từng vùng và địa phương.
Khơi thông dòng vốn cho thị trường năng lượng
Theo các chuyên gia, nhu cầu về vốn đầu tư cho năng lượng giai đoạn 2026-2030 ước trên 77 tỷ USD, tương đương hơn 15 tỷ USD/năm. Tổng nhu cầu vốn từ nay đến năm 2050 ước khoảng 400 tỷ USD, bình quân khoảng 16 tỷ USD/năm.
Từ năm 2001 đến nay, đầu tư tư nhân và FDI vào lĩnh vực năng lượng chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư, chủ yếu tập trung vào các dự án phát triển nguồn điện. Phần còn lại là đầu tư công dành cho lưới truyền tải, hạ tầng chiến lược, các dự án bảo đảm an ninh năng lượng và một số nguồn tài chính quốc tế khác.
Về tín dụng xanh, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt khoảng 150% mỗi năm trong giai đoạn 2017 đến tháng 6/2025 cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng chung của tín dụng xanh là khoảng 22%/năm. Đến tháng 6/2025, dư nợ tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt gần 290.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 1,7% tổng dư nợ của hệ thống tổ chức tín dụng...
Hiện các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và năng lượng sinh khối đang được hưởng nhiều ưu đãi về thuế. Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025, các dự án được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế tối đa 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong tối đa 9 năm tiếp theo. Các dự án năng lượng tái tạo được miễn thuế nhập khẩu theo Luật 90/2025/QH15 và được giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo Luật Đất đai 2024...
Tuy nhiên, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ, quá trình huy động và triển khai nguồn lực cho phát triển năng lượng hiện vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Mặc dù Chính phủ đã ban hành cơ chế mua bán điện trực tiếp theo Nghị định 80/2024/NĐ-CP, song việc triển khai trên thực tế còn gặp khó khăn do tồn tại giới hạn giá trần, chi phí thanh toán bù trừ và thủ tục còn phức tạp, trong khi một số quy định chưa cụ thể và thiếu thống nhất; các chính sách hỗ trợ tài chính cho dự án xanh, chuyển đổi xanh còn chậm đi vào thực tiễn.
Một khó khăn nữa được TS. Cấn Văn Lực chỉ ra là các tổ chức tín dụng trong nước chưa xây dựng được sản phẩm tín dụng đặc thù cho lĩnh vực năng lượng. Các dự án năng lượng thường có thời gian đầu tư dài, chi phí lớn, có thể kéo dài tới 20 năm nhưng nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là ngắn và trung hạn. Năng lực chuyên môn trong đánh giá kỹ thuật và môi trường còn hạn chế cũng khiến công tác thẩm định dự án gặp nhiều khó khăn...
Để tháo gỡ những khó khăn trong việc phát triển thị trường năng lượng, các đại biểu tham gia Diễn đàn đã thảo luận, phân tích nhiều nội dung như: Tháo gỡ vướng mắc về thủ tục hành chính, phê duyệt dự án và đất đai; đề xuất giải pháp phát triển điện gió ngoài khơi; phát triển hệ thống lưu trữ năng lượng... qua đó góp phần chuyển hóa các định hướng, chủ trương lớn thành giải pháp chính sách cụ thể, khả thi trong giai đoạn 2026-2030./.
- Kết nối doanh nghiệp khí Việt Nam với chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế
- Chuyển đổi số ngành Công Thương: Từ thương mại điện tử đến sản xuất xanh, năng lượng thông minh
- GG Industries nhận chuyển giao công nghệ sản xuất pin lưu trữ năng lượng BESS từ Goldwind