ISSN-2815-5823

Không để mã số vùng trồng trở thành “nút thắt” xuất khẩu sầu riêng

(KDPT) - Sầu riêng bước vào cao điểm thu hoạch, Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, tránh ách tắc xuất khẩu.

Không để chậm mã số, ách tắc xuất khẩu

Chiều 10/8, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng chủ trì cuộc họp về tình hình thực hiện Nghị quyết 36/2026 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, gắn với hoạt động tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.

Tại cuộc họp, Chính phủ đánh giá Nghị quyết 36 đã được triển khai quyết liệt, kịp thời tháo gỡ một số vướng mắc liên quan đến mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, tiêu thụ và xuất khẩu sầu riêng.

Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: VGP
Phó thủ tướng Hồ Quốc Dũng phát biểu tại cuộc họp. Ảnh: VGP

Tuy nhiên, trong bối cảnh vụ thu hoạch sầu riêng đang bước vào giai đoạn cao điểm, yêu cầu đặt ra là các địa phương phải đẩy nhanh tiến độ cấp mã số, tổ chức tốt khâu kiểm nghiệm và logistics, tránh phát sinh điểm nghẽn khiến hàng hóa bị ùn ứ.

Phó Thủ tướng yêu cầu Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm nếu để xảy ra ách tắc trong việc cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, kiểm nghiệm hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu.

Các địa phương được yêu cầu xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể Nghị quyết 36, rà soát và quản lý chặt diện tích sầu riêng, đồng thời nâng cao năng suất, chất lượng và tổ chức sản xuất gắn với liên kết chuỗi, nhu cầu thị trường.

Địa phương cũng phải thường xuyên theo dõi tình hình xuất khẩu để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thu hoạch, thu mua, kiểm nghiệm, đóng gói và đưa hàng ra thị trường.

Yêu cầu này đặc biệt quan trọng khi sản lượng sầu riêng đang tập trung lớn trong một thời gian ngắn. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 7 tháng đầu năm, cả nước đã thu hoạch khoảng 768.000 tấn sầu riêng. Trong 5 tháng cuối năm, dự kiến còn khoảng 1,3 triệu tấn, tập trung chủ yếu tại khu vực Tây Nguyên.

Giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 10 được dự báo là cao điểm thu hoạch. Nếu không tổ chức tốt các khâu thu hoạch, kiểm nghiệm, sơ chế và logistics, nguy cơ ùn ứ có thể gia tăng khi sản lượng đưa ra thị trường cùng lúc rất lớn.

Năng lực kiểm nghiệm không thiếu, vấn đề nằm ở cách vận hành

Một trong những điểm nổi bật được Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo là năng lực kiểm nghiệm sầu riêng hiện nay về cơ bản đáp ứng nhu cầu. Tính đến tháng 7/2026, cả nước có hơn 1.200 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói đang hoạt động để phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc. Bên cạnh đó, hơn 1.100 mã số đang chờ phía Trung Quốc phê duyệt.

Không để mã số vùng trồng trở thành “nút thắt” xuất khẩu sầu riêng - ảnh 2

Về kiểm nghiệm, Việt Nam hiện có 50 phòng được Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) chấp thuận. Trong đó, 47 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu Cadimi và 39 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu Vàng O.

Tổng công suất của hệ thống đạt khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năng lực này cơ bản đủ đáp ứng nhu cầu ngay cả trong thời điểm cao điểm, khi sản lượng xuất khẩu có thể lên tới 800-900 lô hàng mỗi ngày. Điều đó cho thấy vấn đề hiện nay không hẳn nằm ở việc thiếu phòng kiểm nghiệm mà chủ yếu ở cách thức tổ chức và vận hành.

Trước yêu cầu kiểm soát ngày càng chặt chẽ từ các thị trường nhập khẩu, Việt Nam đang chuyển hướng sang kiểm nghiệm ngay tại vườn và cơ sở đóng gói, qua đó tăng tính chủ động trong kiểm soát chất lượng, rút ngắn thời gian và hạn chế nguy cơ ùn tắc tại các khâu cuối của chuỗi xuất khẩu.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang đàm phán với GACC nhằm thống nhất tiêu chuẩn kiểm nghiệm và cơ chế công nhận kết quả lẫn nhau, qua đó giảm thời gian thông quan.

Mặt khác, Bộ được giao hướng dẫn người dân, cơ sở kiểm nghiệm triển khai đúng quy định, tăng cường thông tin và dự báo thị trường để định hướng sản xuất.

Siết mã số, xử lý mua bán và gian lận

Cùng với yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cấp mã số, Chính phủ cũng đặt vấn đề siết chặt quản lý nhằm ngăn chặn tình trạng mua bán, cho thuê hoặc gian lận giấy chứng nhận mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, Bộ Công an phải chỉ đạo công an các địa phương tăng cường nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm liên quan đến cấp, quản lý và sử dụng mã số.

Các hành vi được yêu cầu tập trung xử lý gồm mua bán, cho thuê, làm giả, gian lận giấy chứng nhận; làm sai lệch hồ sơ hoặc kết quả kiểm nghiệm nông sản. UBND các tỉnh, thành phố cũng phải tăng cường thanh tra, kiểm tra việc cấp, quản lý và sử dụng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói trên địa bàn.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường được giao tiếp tục triển khai Nghị quyết 36, hỗ trợ địa phương cấp mã số và thành lập cơ sở kiểm nghiệm nông sản. Đồng thời, Bộ phải rà soát, sửa đổi Nghị định 38/2026 theo hướng chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, đơn giản hóa thủ tục và vận hành cơ sở dữ liệu về mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.

Không để mã số vùng trồng trở thành “nút thắt” xuất khẩu sầu riêng - ảnh 3

Hệ thống dữ liệu này được định hướng kết nối giữa các cơ quan và địa phương, phục vụ truy xuất nguồn gốc. Cơ quan quản lý cũng được yêu cầu rà soát chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm, nghiên cứu nâng mức xử phạt hành chính, hình sự đối với hành vi mua bán, cho thuê, làm giả, gian lận giấy chứng nhận hoặc làm sai lệch hồ sơ, kết quả kiểm nghiệm.

Bộ Tài chính được giao chỉ đạo lực lượng hải quan phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, đối chiếu thông tin, ngăn chặn gian lận mã số. Trong khi đó, Bộ Công Thương phối hợp với địa phương chỉ đạo lực lượng quản lý thị trường tăng cường kiểm tra và xử lý các hành vi gian lận thương mại liên quan đến mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.

Đáng chú ý, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết Nghị quyết 36 đã giải quyết căn cơ vấn đề mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai chiến dịch “30 ngày đêm” để gắn mã số vùng trồng. Thay vì chờ các chủ thể tự đề xuất, cách tiếp cận mới hướng tới chủ động định danh các vườn trồng, tương tự việc gắn “số nhà”, qua đó hình thành cơ sở dữ liệu đầy đủ để kết nối và trao đổi thông tin.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sầu riêng Việt Nam hiện đã xuất khẩu sang hơn 20 quốc gia. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu gần 1 triệu tấn sầu riêng quả tươi và khoảng 117.000 tấn sầu riêng đông lạnh.

Trong 7 tháng đầu năm 2026, cả nước xuất khẩu khoảng 493.000 tấn sầu riêng, đạt giá trị hơn 950 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng trong cả năm nay chắc chắn vượt 4 tỷ USD.

Tháng 7 vừa qua, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang đàm phán với Australia, New Zealand và một số thị trường khác nhằm tiếp tục mở rộng đầu ra. Thế nhưng, sự tăng trưởng nhanh của ngành hàng cũng đặt ra những vấn đề dài hạn.

Diện tích sầu riêng tăng mạnh trong những năm qua nhưng liên kết chuỗi chưa tương xứng. Nếu tiếp tục mở rộng diện tích thiếu kiểm soát, nguy cơ dư cung có thể xuất hiện khi nguồn cung tăng nhanh hơn khả năng hấp thụ của thị trường.

Trong khi đó, các thị trường nhập khẩu ngày càng nâng cao yêu cầu về an toàn thực phẩm, kiểm soát dư lượng và truy xuất nguồn gốc. Công nghệ bảo quản, chế biến sâu còn hạn chế khiến xuất khẩu sầu riêng Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào sản phẩm quả tươi.

Từ thực tế này, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu ngành nông nghiệp không chỉ tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn trước mắt mà phải tổ chức lại ngành hàng theo hướng bền vững. Trọng tâm là rà soát diện tích, quy hoạch vùng trồng, hạn chế mở rộng tại những khu vực không phù hợp và xây dựng vùng nguyên liệu ổn định gắn với mã số vùng trồng.

Phó Thủ tướng cũng yêu cầu tăng cường khuyến cáo để người dân có đầy đủ thông tin trước khi quyết định sản xuất, không để xảy ra tình trạng mở rộng diện tích theo phong trào, dẫn đến dư thừa sản phẩm, làm giảm hiệu quả sản xuất và thu nhập.

Cùng với việc kiểm soát diện tích, doanh nghiệp xuất khẩu được yêu cầu nâng cao trách nhiệm, gắn bó với người trồng và địa phương, tổ chức sản xuất minh bạch, bài bản, đồng thời tham gia xây dựng thương hiệu quốc gia cho sầu riêng Việt Nam.

Một trong những định hướng dài hạn của ngành hàng là giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường và từng bước đa dạng hóa sản phẩm xuất khẩu.

Việc Ấn Độ mở cửa cho sầu riêng tươi Việt Nam và các cuộc đàm phán với Australia, New Zealand đang mở thêm dư địa cho ngành hàng. Bộ Công Thương cũng đã giao hệ thống thương vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường quảng bá hình ảnh sầu riêng Việt Nam, mở rộng và phát triển các thị trường mới.

Bên cạnh thị trường xuất khẩu, Bộ Công Thương đề nghị khẩn trương xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc không chỉ đối với sầu riêng mà đối với nông sản nói chung.

Về dài hạn, ngành hàng cũng cần nâng tỷ trọng chế biến sâu, cải thiện công nghệ bảo quản và xây dựng chuỗi sản xuất từ vùng trồng đến đóng gói, logistics và tiêu thụ.

Như vậy, yêu cầu “không để ách tắc” mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói không chỉ nhằm giải quyết bài toán xuất khẩu trong mùa vụ cao điểm. Đằng sau đó là yêu cầu lớn hơn về việc chuẩn hóa toàn bộ chuỗi sản xuất sầu riêng.

Khi sản lượng tiếp tục tăng, thị trường mở rộng nhưng tiêu chuẩn nhập khẩu ngày càng cao, lợi thế của sầu riêng Việt Nam sẽ không còn chỉ nằm ở sản lượng. Khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tổ chức vùng nguyên liệu và xây dựng thương hiệu mới quyết định sức cạnh tranh của ngành hàng trong giai đoạn tiếp theo.



Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023