Tháo gỡ “điểm nghẽn” pháp lý để ngành năng lượng trở thành nền tảng vững chắc cho tăng trưởng
Với chủ đề “Cơ hội và thách thức của ngành dầu khí - năng lượng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước”, vừa qua, tại Hà Nội, Hội Dầu khí Việt Nam (VPA) đã tổ chức Diễn đàn Dầu khí - Năng lượng thường niên năm 2026.
Giai đoạn phát triển mới đặt yêu cầu cao hơn đối với ngành Dầu khí – Năng lượng
Phát biểu tại diễn đàn, TS. Nguyễn Quốc Thập, Chủ tịch Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, trong giai đoạn phát triển mới đặt ra một yêu cầu cao hơn đối với ngành Dầu khí – Năng lượng. “Chúng ta cần một nền năng lượng an toàn hơn, linh hoạt, cạnh tranh, xanh và tự chủ hơn. Nhưng cũng cần nhìn thẳng rằng, các điều kiện thuận lợi của ngành dầu khí không còn như trước. Nhiều mỏ chủ lực đã qua thời kỳ khai thác tốt nhất. Việc gia tăng trữ lượng ngày càng khó hơn. Các dự án mới thường xa, sâu hơn, phức tạp, rủi ro hơn. Trong khi đó, yêu cầu về vốn, công nghệ, tiêu chuẩn môi trường và năng lực quản trị ngày càng cao”.
Nhưng thách thức không phải là toàn bộ câu chuyện. Trong áp lực chuyển đổi cũng có cơ hội phát triển. Cơ hội để ngành dầu khí không chỉ tiếp tục giữ vững vai trò truyền thống, còn mở rộng sang một không gian công nghiệp – năng lượng rộng hơn: khí, LNG, điện khí, lọc hóa dầu giá trị cao, dịch vụ kỹ thuật cao, điện gió ngoài khơi, CCS/CCUS, hydrogen, ammonia, chuyển đổi số, quản trị phát thải và các chuỗi giá trị năng lượng mới.
“Vấn đề là chúng ta có nhìn thấy cơ hội ấy đủ sớm không, có chuẩn bị năng lực đủ nhanh không và có xây dựng được thể chế đủ mở, đủ rõ, đủ ổn định để biến cơ hội thành dự án, thành sản lượng, thành công nghệ, thành năng lực cạnh tranh quốc gia hay không?”, TS. Nguyễn Quốc Thập đặt câu hỏi.
Theo số liệu của Bộ Công thương, trong giai đoạn 2010-2024, hệ thống năng lượng Việt Nam đã phát triển để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nền kinh tế có quy mô GDP theo giá so sánh 2010 tăng gấp hơn 2,2 lần, từ 2,7 triệu tỷ đồng năm 2010 lên 6,3 triệu tỷ đồng vào năm 2024. Dân số trung bình của Việt Nam tăng từ 87,1 triệu người vào năm 2010 lên trên 101 triệu người vào năm 2024, với cơ cấu dân số thành thị tăng từ 30,4% lên đến 38,5%.
Trong giai đoạn này, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế tăng từ 1.689 USD năm 2010 lên khoảng 4.700 USD năm 2024. Đây là giai đoạn Việt Nam phát triển sau khi vào nhóm nước thu nhập trung bình từ năm 2009. Nhu cầu năng lượng Việt Nam được dẫn dắt bởi một loạt các yếu tố: hoạt động kinh doanh sản xuất, tăng trưởng dân số và đô thị hóa, cơ giới hóa giao thông vận tải, mức sống dân cư và tăng cường tiếp cận năng lượng.
Theo ông Trần Thanh Tùng. Phó Vụ trưởng Vụ Dầu khí và Than (Bộ Công Thương), thách thức trước mắt là vô cùng lớn khi nguồn tài nguyên truyền thống đang suy giảm và áp lực thị trường thế giới biến động không ngừng, năng lương lượng truyền thống vẫn còn mang tính chủ đạo cung cấp năng lượng sơ cấp đến năm 2050.
Thách thức về hoàn thiện thể chế và "điểm nghẽn" pháp lý
Chỉ ra những “điểm nghẽn” pháp lý và yêu cầu về hoàn thiện thể chế ngành năng lượng, ông Trần Thanh Tùng cho biết, mặc dù Luật Dầu khí năm 2022 và Luật Điện lực năm 2024 đã tạo ra khung pháp lý tiến bộ, có nhiều cơ chế ưu đãi và tăng cường công tác phân quyền, giao quyền cho các Cơ quan cấp dưới, nhưng thực tiễn thi hành cho thấy vẫn cần phải tiếp tục nâng cấp, bổ sung để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ rõ thể chế, chính sách và công tác quản lý phát triển ngành năng lượng còn bất cập, nhiều chỉ tiêu của các Nghị quyết trước đó (như Nghị quyết 55-NQ/TW) vẫn khó đạt được; Yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh hơn: dù đã có những bước tiến lớn như Nghị định số 146/2025/NĐ-CP, Nghị quyết 66.6/2025/NQ-CP, Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP nhưng việc tiếp tục đơn giản hóa thủ tục và giao quyền mạnh mẽ hơn cho các bộ, ngành, địa phương và các tập đoàn năng lượng để chủ động quyết định các dự án cấp bách là cần thiết.
Cũng theo ông Trần Thanh Tùng, hiện thiếu khung pháp lý cho năng lượng mới: Pháp luật hiện hành vẫn thiếu các cơ chế ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư tham gia vào các lĩnh vực năng lượng mới như: điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, amonia xanh, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS/CCUS). Một số quy định giữa Luật Đầu tư, Luật Quy hoạch, Luật Đấu thầu, Luật Biển, Luật Tài nguyên môi trường Biển và hải đảo còn chưa đồng bộ, đang được nghiên cứu, sửa đổi để đơn giản hóa thủ tục, thúc đẩy tiến độ đầu tư dự án. Việc sửa đổi thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế carbon và các cơ chế khuyến khích đầu tư cho năng lượng sạch mới đang được bắt đầu triển khai.
Diễn đàn Dầu khí – Năng lượng thường niên 2026 vì vậy không chỉ đặt câu hỏi “ngành đang vướng gì”, mà phải đi xa hơn: Ngành đang có cơ hội gì; Nhà nước cần mở không gian thể chế nào; Petrovietnam - Tập đoàn Công nghiệp – Năng lượng Quốc gia Việt Nam phải tự nâng cấp gì; và các chuyên gia, nhà khoa học, tổ chức nghề nghiệp có thể đóng góp gì để quá trình phát triển ấy đi đúng hướng, giảm rủi ro, tăng hiệu quả.
Một nội dung rất quan trọng được Diễn đàn thảo luận là sửa đổi Luật Dầu khí và các cơ chế, chính sách liên quan. Luật Dầu khí không chỉ điều chỉnh hoạt động thăm dò, khai thác. Trong giai đoạn mới, luật cần góp phần mở không gian phát triển cho chuỗi giá trị dầu khí, phát triển mỏ nhỏ, mỏ cận biên, tận thu tài nguyên, nâng cao hệ số thu hồi, thúc đẩy dịch vụ kỹ thuật cao, năng lượng ngoài khơi, CCS/CCUS và các hoạt động chuyển dịch trong quá trình triển khai dầu khí. Luật phải đủ mở để khuyến khích đầu tư, nhưng cũng đủ chặt để bảo vệ lợi ích quốc gia, kiểm soát rủi ro và bảo đảm phát triển bền vững.
- Tiết kiệm năng lượng tạo động lực cho tăng trưởng xanh và chuyển đổi số
- Phát động Giải thưởng Hiệu quả năng lượng năm 2026
- ENTECH HANOI 2026 quy tụ hơn 200 doanh nghiệp, thúc đẩy chuyển dịch năng lượng xanh
