ISSN-2815-5823

Đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, cơ quan thẩm tra lưu ý nguy cơ chồng lấn

(KDPT) - Chính phủ đề xuất áp thuế 0,2% với đất bỏ hoang, không áp dụng hạn mức, song cơ quan thẩm tra lo ngại nguy cơ chồng chéo chính sách.

Sáng 23/10, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Theo đó, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành đã có một số quy định nhằm khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả nhưng chưa quy định mức thuế suất riêng đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày dự thảo luật tại Quốc hội sáng 23/10. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn trình bày dự thảo luật tại Quốc hội sáng 23/10. Ảnh: Cổng thông tin điện tử Quốc hội

Để thể chế hóa Nghị quyết số 21 của Trung ương về nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính, thuế phù hợp nhằm khắc phục tình trạng bỏ hoang đất đai, Chính phủ đề xuất bổ sung quy định áp dụng thuế suất 0,2% đối với các loại đất này, không áp dụng hạn mức. Theo cơ quan soạn thảo, chính sách này hướng tới hạn chế tình trạng găm giữ đất, khuyến khích đưa đất vào khai thác, sử dụng, qua đó nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực đất đai.

Hiện nay, thuế suất đối với đất ở được áp dụng theo biểu thuế lũy tiến từng phần, gồm 0,03% đối với diện tích trong hạn mức, 0,07% đối với phần diện tích vượt không quá ba lần hạn mức và 0,15% đối với phần diện tích vượt trên ba lần hạn mức.

Đối với đất sản xuất và kinh doanh phi nông nghiệp, thuế suất hiện hành là 0,03%. Đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định chịu thuế suất 0,15%, trong khi đất lấn, chiếm chịu thuế suất 0,2%.

Như vậy, mức thuế suất 0,2% được đề xuất đối với đất bỏ hoang cao hơn mức thuế áp dụng cho đất ở trong hạn mức. Đặc biệt, do không áp dụng hạn mức nên toàn bộ diện tích đất thuộc diện điều chỉnh sẽ chịu cùng mức thuế suất này.

Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra tán thành sự cần thiết nghiên cứu, bổ sung chính sách thuế nhằm khuyến khích sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Tuy nhiên, các quy định cần được thiết kế thận trọng để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và khả năng tổ chức thực hiện.

Theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, khi đối chiếu với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành và dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, đề xuất áp dụng thuế suất 0,2% đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng còn một số điểm chưa thống nhất.

Cụ thể, luật hiện hành đã quy định thuế suất 0,15% đối với đất sử dụng không đúng mục đích, đất chưa sử dụng theo đúng quy định. Về bản chất, một số trường hợp trong nhóm này có thể liên quan đến đất không đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng.

Do đó, nếu bổ sung quy định như đề xuất của Chính phủ mà không làm rõ phạm vi điều chỉnh, cùng một diện tích đất có thể được hiểu là thuộc đối tượng áp dụng hai mức thuế suất khác nhau.

Bên cạnh đó, dự thảo Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp dẫn chiếu pháp luật về đất đai đối với ba trường hợp gồm đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng và đất chậm đưa vào sử dụng. Trong khi đó, dự thảo Luật Đất đai sửa đổi mới quy định khái niệm đất bỏ hoang và các trường hợp thu hồi đất bỏ hoang do vi phạm pháp luật về đất đai.

Theo cơ quan thẩm tra, sự khác biệt này khiến quy định dẫn chiếu chưa có đủ căn cứ để áp dụng thống nhất trên thực tế.

Đất bỏ hoang có thể chịu thuế 0,2%.
Đất bỏ hoang có thể chịu thuế 0,2%.

Một vấn đề khác là nguy cơ trùng lặp nghĩa vụ tài chính đối với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng hoặc chậm đưa vào sử dụng. Theo dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, ngoài tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, chủ đầu tư có thể phải nộp thêm khoản tiền tăng thêm được tính lũy tiến hằng năm. Trường hợp quá 60 tháng mà vẫn không đưa đất vào sử dụng, Nhà nước sẽ thu hồi đất theo quy định.

Nếu đồng thời áp dụng thuế suất 0,2% theo dự thảo luật thuế, cùng một diện tích đất dự án có thể vừa phải nộp khoản tiền tăng thêm theo pháp luật về đất đai, vừa phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. Điều này đặt ra yêu cầu làm rõ mối quan hệ giữa các khoản thu để tránh trùng lặp nghĩa vụ tài chính.

Ủy ban Kinh tế và Tài chính cũng lưu ý dự thảo chưa quy định rõ việc loại trừ thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc đất thuộc dự án đầu tư phân kỳ đã được phê duyệt. Nếu không có tiêu chí cụ thể, chính sách có thể áp dụng cả với trường hợp chậm đưa đất vào sử dụng do nguyên nhân khách quan.

Ngoài ra, hồ sơ dự án luật chưa đánh giá đầy đủ tác động đến thu ngân sách nhà nước, trong bối cảnh dữ liệu về các loại đất này chưa được thống kê đầy đủ trên hệ thống quản lý của cơ quan thuế.

Từ những vấn đề trên, cơ quan thẩm tra đề nghị Chính phủ thống nhất thuật ngữ, khái niệm, tiêu chí và phạm vi áp dụng giữa dự thảo luật thuế với dự thảo Luật Đất đai sửa đổi; đồng thời đánh giá tác động đối với ngân sách nhà nước, người nộp thuế và khả năng tổ chức thực hiện.

Bên cạnh các vấn đề về tính thống nhất pháp luật, mức thuế suất 0,2% cũng đặt ra câu hỏi về khả năng hạn chế tình trạng găm giữ đất chờ tăng giá.

Giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, cho rằng cần xem xét mức thuế trong tương quan với tốc độ tăng giá bất động sản. Theo ông, nếu mức thuế quá thấp so với lợi ích kỳ vọng từ việc nắm giữ đất, chính sách khó tạo ra động lực đủ lớn để người sở hữu đưa đất vào sử dụng.

Ông dẫn ví dụ phân khúc nhà ở xã hội và nhà ở thương mại giá rẻ, với mức giá khoảng 11 triệu đồng/m² năm 2014, tăng lên 33 triệu đồng/m² vào năm 2024. Theo ông, tốc độ tăng giá bất động sản trong một số giai đoạn có thể khiến khoản thuế 0,2% không đủ sức hạn chế hành vi găm giữ đất.

Cùng quan điểm cần tăng hiệu quả điều tiết, ông Nguyễn Đức Kiên, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, cho rằng chính sách thuế cần tạo ra sự khác biệt rõ ràng về lợi ích giữa người sử dụng đất thực sự cho sản xuất, kinh doanh và người nắm giữ đất chủ yếu để chờ tăng giá.

Trong khi đó, ông Phạm Nguyễn Toan, Phó chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu xác định rõ nguyên nhân khiến đất bị bỏ hoang trước khi áp dụng chính sách. Theo ông, cần phân biệt trường hợp chủ đầu tư cố tình găm giữ đất với những trường hợp chậm triển khai do nguyên nhân khách quan hoặc vướng mắc từ phía cơ quan quản lý.

Các ý kiến này cho thấy, bên cạnh việc xác định mức thuế phù hợp, tiêu chí nhận diện đất bỏ hoang và cơ chế xử lý các trường hợp đặc thù sẽ là những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của chính sách.

Dự án luật gồm 4 điều, sửa đổi, bổ sung một số quy định của ba luật thuế. Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI. Theo chương trình dự kiến, Quốc hội thảo luận về dự án luật tại tổ ngày 23/10 và tại hội trường ngày 6/11; nếu được thông qua, luật dự kiến có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.



Kinh doanh và Phát triển

Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023

 
kinhdoanhvaphattrien.vn | 23/10/2026