Khúc lãng du cụ Mén - Bản anh hùng ca về con người
Mặc dù ngoài bìa cuốn “Khúc lãng du cụ Mén”, tác giả đã ghi rõ là thể loại Trường ca. Nhưng khi đọc tác phẩm, tôi vẫn vô cùng ngạc nhiên. Ngạc nhiên vì theo quan niệm chung, trường ca là bài thơ dài, có chương có khúc mang một dung lượng lớn các sự kiện lịch sử hoặc cảm xúc trữ tình. Hoặc kể về nhân vật anh hùng gắn với lịch sử đấu tranh sinh tồn, dựng nước và giữ nước…
Còn ở đây là 100 bài thơ rời, mỗi bài có đầu đề theo sự kiện của nhân vật, không có chương có khúc. Nhân vật không có tên tuổi trong lịch sử, cũng không phải con người huyền thoại, mà lại rất thật như một ai đó rất quen thuộc trong cuộc đời này…
Nhưng rồi càng đọc tôi càng hiểu dần, đọc kỹ thì ngộ ra: Khúc lãng du cụ Mén phải chăng là ý tưởng của tác giả sáng tác bản trường ca về con người trong thời đại hôm nay? thời đại của kỷ nguyên vươn mình – thời đại của con người mang khát vọng về sức khỏe, tuổi thọ cao, tự thân vận động, giám nghĩ dám làm, hy sinh hết mình vì một cộng đồng dân tộc phát triển.
Thật vậy, nếu như trong Trường ca Đam San của người Ê Đê (Tây Nguyên), chỉ có một nhân vật Đam San, con người hoàn thiện hoàn mỹ cả về hình thức, sức mạnh, lòng can đảm, trí tuệ lẫn tâm hồn đã chiến đấu chống kẻ ác, dành lại cuộc sống yên lành vui tươi cho buôn làng. Thì đây cũng chỉ một nhân vật Cụ Mén. Cụ cũng điển hình xuất sắc về tuổi thọ cao, thân thể cường tráng và tinh thần kiên cường bất khuất giúp dân chống trọi hoàn cảnh, chiến thắng hủ tục, vượt lên đói nghèo để xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc. Nhân vật Cụ Mén cũng giống Đam San trong Trường ca Đam San và giống Xinh Nhã trong trường ca Xinh Nhã là nhân vật có sức mạnh thần kỳ, có trí tuệ thông minh và lòng can đảm vô song, lập nên những kỳ tích không người bình thường nào làm được.
Tác phẩm có 3 phần: Phần đầu: Cụ Mén với ruộng vườn biển cả, gồm 26 bài thơ. Phần giữa: Sứ mệnh Cụ Mén, gồm 60 bài thơ. Và phần cuối: Cụ Mén trở về quê hương, gồm 14 bài thơ. Như vậy phần Sứ mệnh Cụ Mén được tập trung ý tưởng nhiều nhất. Và tác giả cũng gửi gắm tư tưởng chủ đề chính ở phần này.
Mở đầu là một bài thơ về Vườn khoai nhà Cụ Mén. Rồi lần lượt công việc lao động, sinh sống của người nông dân được kể trong từng bài thơ, như: cày ruộng, ủ rượu, riu tép, chăm ngô, chăn dê, làm vườn, giặm gianh, chèo ghe, vá lưới, câu mực, bắt cá, tập thể thao, ăn trầu, uống rượu…và khi bài “Giãi lòng cụ Mén” trình bày, thì chân dung một người nông dân lực điền chính hiệu đã hoàn thiện: 92 tuổi mà khỏe mạnh, cường tráng như thanh niên, chăm chỉ lao động tự cung tự cấp. Đặc biệt tuy rất nghèo khổ nhưng Cụ Mén sống lạc quan yêu đời. Ở phần này, ta bắt đầu bị thu hút từ việc cụ đến làng bên tham gia cùng ngư dân đi biển đánh bắt cá. Lạ kỳ thay, một cụ già hơn chín chục tuổi, chỉ quanh quẩn đồng áng ruộng vườn mà bỗng nhiên dám rời làng ra biển khơi câu mực, bắt cả cá mập một cách diệu nghệ. Gặp khi sóng gió bão bùng, cụ cũng dạn dày kinh nghiệm, vững vàng hướng dẫn các ngư dân chống chọi sóng to, neo giữ con tàu khỏi chìm. Có cụ đi biển, thuyền của ngư dân luôn đầy ắp cá. Người dân phấn khởi chào đón cụ khi đoàn thuyền về bến mỗi ngày. Một người nông dân hiền lành, khỏe mạnh, cường tráng, nhiều kinh nghiệm trồng trọt chăn nuôi và biết đi biển đánh cá như Cụ Mén, đến một ngày, trời tất yếu phải chọn để giao sứ mệnh. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả chọn đầu đề “Sứ mệnh Cụ Mén” để đặt cho tổ khúc 60 bài thơ tiếp theo.
Ấy là sứ mệnh “Thay trời hành động”. Đang làm ăn, đang sống giữa xóm làng tưởng yên phận tuổi già… thế mà tự nhiên bỏ làng ra đi, lên vùng cao với bà con dân tộc thiểu số. Tác giả kể chuyện Cụ Mén đến bản người Thái, người Mông, người Dao, người Tày ở vùng núi phía Bắc… ăn ở sinh sống với bà con để dạy họ biết chăn nuôi dê, lợn gà trâu bò, biết trồng lúa ngô khoai sắn, biết trồng rừng, bảo vệ rừng và hướng dẫn cách phòng cháy rừng, cách đắp đập lấy nước làm thủy lợi và nuôi cá, cách làm nhà tránh lũ. Cụ còn vận động dân bản làm trường học, mời giáo viên về dạy chữ cho con em họ. Khó khăn nhất là những hủ tục lâu đời ăn sâu trong tiềm thức của người dân làm khổ họ thì Cụ Mén quyết tâm vận động, khuyên nhủ, giảng giải cho bà con nghe ra mà bỏ bằng được như: hủ tục cướp vợ, tảo hôn, chữa bệnh bằng thày mo cúng bái… Những việc làm của Cụ Mén được kể rất cụ thể, rất chi tiết nhưng toát lên nỗi vất vả, trật vật của con người tay làm miệng nói, sống hòa đồng vào đời sống văn hóa của dân, chịu đói khổ cùng dân. Vì thế dù vận động rất khó khăn nhưng cuối cùng Cụ Mén đã thành công. Dân bản Thái, Mông, Tày, Dao đều chăm chỉ làm ăn, không chỉ biết chăn nuôi trồng trọt giỏi mà còn biết làm du lịch, biết đoàn kết xây dựng đời sống bản làng tươi đẹp, trẻ con được đi học, làng bản khang trang sạch sẽ, lúa ngô tươi tốt, gia cầm đầy chuồng, nhà nhà ấm no sung túc. Kết quả là tiếng tăm tốt đẹp của Cụ Mén được lan tỏa từ bản này sang bản khác, từ vùng này sang vùng khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác. Mọi người đồn thổi và càng tin rằng cụ chính là người của trời được sai xuống giúp dân:
Tên Mén đã nổi/ Khắp cả núi rừng/ Ai ai cũng biết… (Cụ Mén dặm trường)
Dân bản cứ ngỡ/ Có một ông tiên/ Độ giáng cứu trần/ Qua cơn hoạn nạn (Cụ Mén tránh lũ)
Nghe tiếng Mén rồi/ Người Dao quấn quýt/ Như Thần núi cho/ Đưa mén về bản/ Giúp dân tộc Dao/ Làm ăn thịnh vượng (Cụ Mén về bản Dao)
Hành trình của Cụ Mén đúng là hành trình của người anh hùng đi thực hiện sứ mệnh mà Trời giao cho. Sau khi giúp đỡ người dân miền núi phía Bắc biết làm ăn sinh sống ổn định, Cụ Mén lại vượt Trường Sơn – một chuyến đi tự nguyện đầy gian nan khổ cực, có lúc bệnh tật gần chết để vào với đồng bào Tây Nguyên xa xôi lạ lẫm. Trời giao xứ mệnh, trời cũng cho sức khỏe, trí tuệ và tài năng, kiến thức để vượt qua mà giúp đời. Chẳng thế mà cuộc đời cụ trước đó chỉ quanh quẩn trong túp lều tranh bên lũy tre làng mà bỗng chốc biết muôn vàn kiến thức, biết trăm nơi vùng miền với những nền văn hóa phong phú khác nhau để làm vốn giúp dân. Dân ấy là đồng bào các dân tộc Pa Cô, Cơ Tu, Xê Đăng, Ba Na, Kông Poa… Sau cú vượt Trường Sơn gian nan như là bị trời thử thách thì Cụ Mén đã hồi sinh rất nhanh và bắt tay ngay vào sứ mệnh của mình. Cụ lại vận động dân làng bỏ săn bắn, không sống du canh du cư, biết phát nương làm rẫy trồng cà phê, cây ăn quả, trồng lúa nước và nuôi gia cầm, biết dệt thổ cẩm, làm du lịch, làm trường học, làm nhà Rông cho bà con sinh hoạt văn hóa... Cụ tiếp tục vận động đồng bào bỏ các hủ tục lâu đời như tục Cà răng căng tai, tục để phụ nữ một mình vào rừng sinh đẻ, tự cắt rốn cho con hoặc tục ma chay cưới xin ăn to mấy ngày… Đặc biệt Cụ Mén phát hiện ra cây sâm quý hiếm chính là thuốc bổ cho con người vừa dùng vừa trồng bán lấy tiền.
Xem ra, xây dựng nhân vật Cụ Mén, tác giả có ý tưởng xây dựng một nhân vật vừa thực tế vừa huyền thoại để trường ca mang tính chất sử thi về người anh hùng đại diện cho dân tộc Việt mang sức mạnh tập thể đoàn kết, tập trung tinh hoa của trí tuệ thông minh và giỏi giang vượt trội. Tính hiện thực ấy được đúc kết từ hình ảnh những cán bộ của Đảng, những chiến sĩ biên phòng, những nhà giáo, nhà khoa học, kỹ sư, bác sĩ… từ miền xuôi lên miền núi giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn minh, đủ cơm ăn áo mặc và vui chơi học hành: Thầy trò Mén phải/ Năm cùng với dân/ Sẻ chia tinh thần/ Ngọt bùi cùng sẻ (Cụ Mén tránh lũ)… Nhưng nhân vật cũng mang tính huyền thoại để trường ca thêm hấp dẫn sinh động. Tính huyền thoại ở chỗ Cụ Mén mang sức mạnh siêu nhân đã vậy, Cụ không học hành tập luyện bao giờ mà tự nhiên dạy được trai bản phi ngựa như bay, bắn cung tên diệu nghệ, múa kiếm bằng dao quắm tài tình, thổi khèn lá và múa xòe như người dân bản. Cụ còn dạy xem thiên văn để biết trời đất nắng mưa, bão gió, dạy cách nghe tiếng chim muông thú rừng để tránh bị tấn công, dạy hái lá thuốc trên rừng để chữa các bệnh, dạy cách tìm nguồn nước để sinh sống, dạy dệt thổ cẩm đẹp để bán… những việc làm ấy ta lại thấy Cụ Mén như các vị Thành Hoàng làng xưa đi giúp dân làm ăn, mở mang nghề nghiệp cho dân an thái bình.
Như vậy, 100 bài thơ toàn những câu chuyện xung quanh cuộc đời và công việc của Cụ Mén, tưởng như chỉ kể lể rông dài, nhiều khi không biểu cảm gì, nhiều điều còn tếu táo riêng tư… nhưng đem xâu chuỗi với nhau, suy nghĩ liền mạch các nội dung, ta sẽ nhận ra những điều có giá trị.
Đó là giúp ta thấy được cuộc sống lao động gian khổ của người nông dân Việt Nam từ miền xuôi đến miền núi, từ Nam tới Bắc, đâu đâu cũng vật lộn với miếng cơm manh áo, với những hủ tục từ ngàn đời níu kéo cuộc đời họ tối tăm không đứng lên no ấm được.
Đó là cho ta thấy cần phải có những con người có tâm có đức thật tài giỏi “miệng nói tay làm” đến với dân làm cuộc cách mạng thay đổi suy nghĩ cổ hủ, thay đổi cách làm ăn cũ, thay đổi bộ mặt nông thôn, đưa luồng sinh khí văn hóa mới vào cuộc sống của họ.
Còn cho ta thấy tác giả viết ẩn dụ, mơ ước về một đất nước có tiềm năng về con người trong tương lai: có độ tuổi thọ cao, có sức khỏe dồi dào, có trí tuệ thông minh, biết tự lực tự cường, làm chủ thiên nhiên, làm chủ số phận, có sức mạnh thần kỳ xây dựng được thế giới hòa đồng vươn đến đỉnh cao nhân loại…
Giá trị tập sách có ý nghĩa sâu sắc như vậy, nhưng lời lẽ thật giản dị, mộc mạc, có khi nôm na như lời ăn tiếng nói hàng ngày khiến ai đọc cũng dễ hiểu, dễ cười, dễ cảm thông vì đôi khi tếu táo, đùa giỡn hình ảnh nhân vật.
Nhưng chính những lời thơ kể chuyện mộc mạc ấy lại giống như lời kể “Khan” trong các trường ca Tây Nguyên. Không cần vần, chỉ cần nhịp. Không cần từ ngữ văn hoa, chỉ cần ngữ điệu người kể. Vậy mà hằng đêm người dân ngồi nghe già làng kể “Khan” không biết chán về những người anh hùng mang sức mạnh của thánh thần giao phó, giúp dân làm ăn, giữ gìn buôn làng nương rẫy.
Qua tập trường ca “Khúc lãng du Cụ Mén”, ta còn khâm phục tác giả Phạm Hồng Điệp là người rất giàu vốn kiến thức về văn hóa, kinh tế, địa lý và phong tục tập quán của các dân tộc từ miền xuôi đến miền ngược. Ví như rất sành điệu về ẩm thực nông thôn đồng bằng như: rau lang xào tỏi, tép rang rắc tí lá chanh, canh cải nấu cá rô đồng cho gừng, thịt ba chỉ kho tàu, nước rau muống luộc dầm quả chay… đến các món ăn miền núi như mèn mén ngô, thắng cố, xôi nếp nương, cá suối nướng than, thịt trâu gác bếp. Cũng thông thạo và hiểu biết các lễ hội: Gầu Tào, Lễ hội Cơ Tu, Lễ hội đâm trâu, phong tục chọc sàn bắt vợ, phong tục cúng ma.v.v. không chỉ hiểu biết mà tác giả còn kể rất sinh động. Đặc biệt rất có kiến thức về phương thức canh tác của từng đồng bào dân tộc để rồi mượn nhân vật Cụ Mén để hướng dẫn họ thay đổi.
Như vậy, “Khúc lãng du Cụ Mén” là bản trường ca rất khác biệt, rất lạ cả về hình thức lẫn nội dung so với các trường ca đương thời. Nhân vật vừa hiện thực vừa huyền thoại, việc làm vừa bình thường vừa kỳ vĩ, sức mạnh vừa con người vừa thần thánh, ngôn ngữ vừa văn học vừa nôm na, ý tưởng vừa đơn giản vừa cao siêu. Nói chung phải chịu khó đọc hết các bài thơ và sâu chuỗi các vấn đề rồi liên tưởng thật thoáng thì ta sẽ được soi rọi bởi ánh sáng của chữ nghĩa.
Rất chúc mừng doanh nhân Phạm Hồng Điệp – một tài năng trong lĩnh vực kinh doanh và tài năng cả trong văn học nghệ thuật.
Thanh Xuân, ngày 20/4/2026