Những biến tấu chữ về cụ Mén - Bài ca về tình yêu sự sống bất diệt
Trăm năm trong cõi người ta và 100 bước chân trên mặt đất
Tôi gọi 100 bài thơ trong tổ khúc (suite) nhan đề Khúc lãng du cụ Mén (trường ca) tương tự 100 thiên truyện, tựa như 100 bước chân khổng lồ của một người nông dân chân đất, áo nâu sồng, gắn bó suốt đời với đất đai, vừa như một lão nông tri điền, trong vai người làm ruộng vườn vĩnh cửu, vừa như một triết gia được chọn của những người cần lao có tên Nhân Dân thấm đượm triết lí “Dân là gốc” (đúng hơn “Lấy dân làm gốc”?!). Cụ Mén qua chữ thơ được tôn vinh như nhân vật Thần Nông trong tâm thức dân gian. Nếu coi Cụ Mén là một người anh hùng nông dân áo vải, thì gốc tích của Cụ là có cội rễ trong dân gian, nhân quần, thiên hạ. Không hề ngẫu nhiên khi mở màn cuộc hành trình vĩ đại của một con người có tên cụ Mén, tác giả lại gột lên trước tiên từ đất đai, ruộng đồng, khoai sắn, quê kiểng, dân dã trong thiên 1 (Khoai nhà Cụ Mến). Bắt đầu tử thiên thứ 3 (Cụ Mén cày ruộng), độc giả cảm nhận nhân vật chính của trường ca là người hành động, lao động sáng tạo, người hoạt động thực tiễn bởi vì “lí thuyết thì xám còn cây đời mãi mãi xanh tươi”. Một vẻ đẹp giản dị: “Cụ nông dân khỏe chân đi đất/ Vai u thịt bắp vặn sừng trâu/ Ngày ngày cần mẫn cày tơi ruộng/ Đất xốp hoa màu tốt tốt mau/ Thửa ruộng bậc thang cụ chăm bẵm/ Thuốn cày lên xuống tới góc sâu/ Mải miết lật xới từng thớ cỏ/ Thẳng ruộng đường cày ngấu thật lâu/”. Cụ Mén biểu trưng cho vẻ đẹp giản dị, khiêm nhường, làm lụng siêng năng vất vả có thành quả nhưng luôn nép (giấu) mình vào thiên nhiên, sống thuận thiên, hòa vào tự nhiên. Khi thật cần thiết mới lộ diện, xuất hiện, xưng tên trong thiên 4 (Giãi lòng Cụ Mén). Cụ Mén, có thể nói là nhân vật đầu tiên mang tiếng cười sarng khoái vang dội vào văn chương đương đại, là biểu tượng của chủ nghĩa lạc quan sống bởi sự sống không bao giờ chán nản “Tên tôi là văn Mén/ Cái tên này do ông bác đặt cho/ Xuân này tôi hai chín/ À lộn! Chín mươi hai cái xuân xanh/ Ấy mà mọi người gọi tôi là cụ Mén/ Ừ thì cụ đây vẫn còn xuân chán đấy thôi”. Cụ Mén đã vượt qua lằn ranh “nhân sinh thất thập cố lai hi”, sẽ “bách niên giai lão”, sẽ đạt tới giới hạn của nhân sinh “trăm năm trong cõi người ta”. Văn chương một thời ca ngợi lòng dũng cảm, yêu nước, căm thù giặc xâm lược, đức hi sinh cao cả “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Không có gì là không đúng trong cái nhìn biện chứng, lịch sử cụ thể. Nhưng các giá trị không bao giờ nhất thành bất biến. Dưới ánh sáng của lí thuyết tiếp nhận nghệ thuật chúng ta thừa nhận vai trò quan trọng của công chúng khi tác phẩm nghệ thuật rời khỏi tay người cha tinh thần của nó. Những thế hệ độc giả mới sẽ chấm điểm theo “ba-rem” mới cho tác phẩm. Các giá trị nhân văn về sự sống, sinh mệnh con người, tự do và hạnh phúc cá nhân, vẻ đẹp tự nhiên của con người, kể cả vô thức và bản thể,...tất cả tạo nên giá trị Trời (Tạo hóa) ban tặng cho mỗi sinh linh tồn tại trên cõi trần gian.
Người khổng lồ chân đât
Cái quý giá nhất của con người là sinh mệnh, sự sống, sự sinh thành chứ không phải là sự tàn phá, cái chết, sự hủy diệt. Cụ Mén, với tư cách là một con người trong ý nghĩa sâu sắc nhất của từ này, đã sống tự nhiên (thuận thiên) theo quy luật của tạo hóa.
Tôi trìu mến gọi nhân vật cụ Mén là người khổng lồ chân đất. Phẩm chất này thể hiện sinh sắc ở khúc biến tấu thứ nhất: CỤ MÉN VỚI RUỘNG VƯỜN BIỂN CẢ ( thiên 1-26). Các thiên 5 (Cụ Mén tập thể thao), 6 (Cụ Mén ủ rượu), 7 (Cụ Mén riu tép), 8 (Bữa cơm Cụ Mén), 9 (Cụ Mén chăm ngô), 11 (Cụ Mén chăn dê), 12 (Cụ Mén làm vườn), 14 (Cụ Mén giặm gianh), 15 (Cụ Mén chèo ghe)... cho độc giả cảm nhận toàn vẹn và sinh động về một con người viết hoa. Ở đây khúc xạ sự giao duyên giữa cái bình thường và cái vĩ đại, song trước hết mỗi con người phải được bắt đầu hiện hữu trong phạm trù cái bình thường, cái tự nhiên, hồn nhiên, bản nguyên và vô tư lự. Nghĩa là không bị lí tưởng hóa, thậm chí bị thần thánh hóa theo lối tôn sùng cá nhân cực đoan. Chúng ta sống quá lâu trong cái bất bình thường do giặc giã, do thiên tai, dịch bệnh khách quan mang lại. Chúng ta lại cũng thường sống trong sự o ép của cái phi lí do hủ tục, định kiến, bất bình đẳng nên loại hình nhân vật trong văn học thường mang đặc điểm của sự cực tả, cực hữu theo thuyết giai cấp tính. Lần này, với nhân vật Cụ Mén, xuất hiện một kiểu loại (loại hình) nhân vật hàm nghĩa tự nhiên, hồn nhiên, giàu chất đời, chất sống, hết sức gần gũi với độc giả. Tôi gọi kiểu nhân vật Cụ Mén là loại hình “nhân vật nguyên thủy”. Cụ Mén đích thực là nhân vật của đạo đức, đạo lí nguyên thủy, với vẻ đẹp nguyên sơ có phần hoang dã. Cụ Mén mang hình bóng của Thạch Sanh, của Thần Gióng, của Lang Liêu, của An Tiêm trong tư duy nghệ thuật dân gian vốn mang phẩm chất “tự nhiên”. Cụ Mén tồn tại giữa cõi trần gian hồn nhiên, nhi nhiên với triết lí “Tất cả những gì gần gũi với con người đều không xa lạ với tôi”. Một ví dụ sinh động trong thiên 11 (Cụ Mén chăn dê). Có lẽ do tò mò một phần, song phần khác là bản năng ham sống mãnh liệt khiến cụ Mén có lúc thích thể nghiệm cảm giác mạnh “Cụ Mén tò mò/ Bứt lá dương dại/ Nhấm nháp đầu lưỡi/ Cả người nóng ran/ À ra thì thế/ Cụ nhoẻn miệng cười/ Tao biết tỏng rồi/ Nhưng thử với ai/ Hu hu cụ Mén/ Dê ơi là dê”.
Nhưng tầm kích của Cụ Mén trong hình vóc một Người khổng lồ chân đất chính là khi từ thiên 18 (Cụ Mén ra biển lớn). Vượt lên một thói quen dù tốt lành đâu dễ. Nhưng mưốn trở nên lớn mạnh hơn cái khuôn khổ vốn có thì phải có tinh thần vượt thoát, dám nghĩ dám làm. Tại thời khắc này, Cụ Mén lóe sáng, phát lộ lòng can trường “Cụ đến làng bên/ Xin lên theo thuyền/ Tiến ra biển lớn. (...)/ Cụ bèn cởi phắt/ Nâu sồng tấm áo/ Để đôi ngực trần/ Vạm vỡ hơn trai/ Cụ cầm hai mái/ Đi ba đường quyền/ Chủ thuyền trố mặt/ Con lạy cụ rồi. (,,,)/ Cụ nhoẻn miệng cười/ Đâu phải cụ Mén/ Mà là chàng trai/ Ngực trần đón nắng/ Vượt lên sóng dữ/ Xây dựng quê hương”. Từ một nông dân chính hiệu, giờ đây cụ Mén vào vai ngư dân ăn sóng nói gió. Công việc cũng bình thường như khi cày ruộng dẫu hình thái lao động có khác (vá lưới, câu mực, săn cá mập,...). Nhưng như đã nói ở trên, cụ Mén thích thể hiện bản lĩnh trong đời sống và lao động. Lần này Cụ Mén bắt cá mập (thiên 21). Tuy vậy, dẫu sao đó chưa phải là thử thách cao độ nhất với cụ Mén giữa trùng khơi. Phải khi đương đầu với giông tố trên biển mới đúng là cơ hội lửa thử vàng gian nan thử sức. Bởi vì con người là vô cùng bé nhỏ trước cơn giận dữ của thiên nhiên. Song le “Thủy thủ cụ Mén/ Thuyền trưởng sẵn sàng/ Chờ đón cơn giông/ Bắt đầu sóng cả/ Rồi đến sóng lừng/ Sóng vuông sóng dữ/ Trùm lên boong tàu”. Cuối cùng những con người đầy ý chí, nghị lực, lòng dũng cảm như cụ Mén đã chiến thắng thiên nhiên. Cái hay, cái đẹp, cái đáng noi gương chính là tâm thế của cụ Mén khi thiên 24 (Cụ Mén ôm biển khơi). Một mặt con người sẵn sàng chống chọi với thiên nhiên để sinh tồn, nhưng mặt khác cần phải biết cách làm bạn, sống cùng với thiên nhiên (thuận thiên) để cùng chung sống hòa bình. Theo tinh thần biện chứng thì hòa bình, hữu nghị, hai bên cùng có lợi, với phương châm và tinh thần hiện sinh: hiệu năng - hiệu lực- hiệu quả theo cách nói hiện nay.
Từ khúc biến tấu thứ hai SỨ MỆNH CỤ MÉN (thiên 27 - 86), độc giả chiêm bái sự vụt lớn lên của hình tượng nhân vật theo hình vóc Phù Đổng của người nông dân tên Mén. Lần ày cụ tạm xa đất đai quê cha đất tổ, tạm xa biển rộng trùng khơi nơi sẵn sàng đáp ứng chí thỏa tang bồng để “Thuyền cầu bão táp mưa sa/ Dường như giông bão mới là bình yên” (Lermontov), Từ thiên 27 (Sứ mệnh cụ Mén) hình ảnh một chiến binh đi mở cõi có hình vóc của một tráng sĩ hành “Hành trang đơn giản/ Cụ nở nụ cười/ Rèn chân săn chắc/ Với gậy không sờn/ Đi bộ hành quân/ Vượt đèo lội suối/ Đến với bà con/ Dân tộc yêu quý”. Ở không gian sinh tồn mới trong thiên 28 (Cụ Mén leo đồi), thiên 29 (Cụ Mén vào bản), thiên 31 (Cụ Mén bắt cá suối), thiên 32 ( Cụ Mén đốt thực bì), thiên 33 (Cụ Mén nhập tục bản Thái), thiên 34 (Cụ Mén đi hái trám), thiên 35 (Cụ Mén tìm dược liệu), thiên 36 (Cụ Mén dạy đồng bào nuôi lợn)...... cho thấy một quy luật sinh tồn: không phải kẻ mạnh, hay kẻ thông minh, mà là kẻ biết thích nghi thì tồn tại. Nói cách khác, triết lí sống và hành động của Cụ Mén rất chi là “lão thực”. Không nên coi cụ Mén là người khai sáng văn minh cho một tộc người khác mình. Nên cảm nhận về cụ Mén như là người gieo hạt, ươm mầm sự sống, sự sinh thành cho đồng loại cùng máu đỏ da vàng như mình. Nhưng đừng nghĩ cụ Mén chỉ là người hăm hở giúp đỡ người khác khi có điều kiện. Chính trong không gian sinh tồn mới cụ Mén đã hòa nhập với không gian văn hóa mới, cụ thể là với đồng bào dân tộc Thái. Cụ Mén có cách ứng xử của người biết cách “đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục”. Thiên 37 (Cụ Mén “puc xao”) đọc rất thú vị (puc xao là phong tục “chọc sàn” của người Thái). Không chỉ puc xao, cụ Mén còn nhập vào làn điệu xòe nổi tiếng của người Thái ở thiên 38 (Múa xòe cùng cụ Mén). Sống theo nguyên tắc ứng xử “mình vì mọi người, mọi người vì mình” nên Cụ Mén đã gặp được Phúc lành giữa rừng (thiên 39), hơn thế trong thiên 40 (Cụ Mén tình Mông) đã lấy tình làm trọng, lại càng trọng nghĩa khinh tài nên trong thiên 41 (Người Mông đón Mén). Ở thiên 43 (Cụ Mén gặp thày mo) cho thấy một cụ Mén sáng quắc trí tuệ dân gian khi giúp bà con dân tộc “Đừng tin vào cúng/ Cả làng mừng vui/ Nói với già làng/ Cái bệnh phải chữa/ Không mất tiền mo/ Đưa vào hương ước”. Về phương diện này, Cụ Mén xứng đáng là một chiến sĩ văn hóa, người làm dân vận giói nhất xứ ta. Ở thiên 45 cụ Mén còn đảm nhiệm sứ mệnh quan trọng (Bản Mông khai thông con chữ). Cụ Mén cũng là người nhạy cảm khi tiếp biến văn hóa dân tộc ở thiên 51 (Lễ hội Gầu Tào). Nhưng bản tính cụ Mén là con người ưa xê dịch, hành động nên lúc nào cũng sẵn sàng lên đường. Cụ không thích án binh bất động. Nên ở thiên 56 (Cụ Mén dặm trường). Cụ Mén từng sống với các tộc người Thái, Mông, Tày, Dao, Pa Ko, Cơ Tu, Xê Đăng, Ba Na...Ở đâu cụ Mén cũng là bạn của người dân tộc. Được tin cậy, trao gửi trên tinh thần thấu hiểu, thấu cảm. trên chặng đường thiên lí phụng sự cộng đồng các dân tộc anh em. Trên chặng đường Nam hành tiến vượt Trường Sơn Cụ Mén và Lù Cháy (bạn đường tâm phúc mới) đã xuyên Việt, đã nước non vạn dặm. Đã liên tục cứ đi, lại đi, trời xanh thêm. Đáng chú ý hơn cả là thiên 79 (Cụ Mén từ đất đỏ đến giấc mơ xanh). Ở đây tác giả đã chạm đến phạm trù “xanh” (môi trường sống xanh, công nghiệp xanh, nông ngiệp xanh, giáo dục xanh, y tế xanh, văn học xanh).
KHÚC BIẾN TẤU THỨ BA” CỤ MÉN TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG (thiên 87-100). Sau khi tự coi mình đã hoàn thành sứ mệnh được chọn, được giao không phải theo cách nói vu khoát “thay trời hành đạo”, mà theo cách tận hiến cho “dân là gốc” cụ Mén đã trở về đời thường làm người dân lương thiện. Sống bao nhiêu tuổi, thì vẫn “Tâm hồn cụ tựa bài thơ/ Sớm chiều thanh thản như vừa cày xong/ Cụ vui sướng rất thong dong/ Nghe chim hót, lại lòng vòng ngắm cây”. Bây giờ cụ Mén có cái tác phong của một đạo sĩ, an nhiên và thấu thị giữa cõi đời dẫu khi hưng thịnh hay dẫu khi phù vân.
Những ấn tượng - bài học nghệ thuật từ Khúc lãng du cụ Mén
Rậm rạp và phồn sinh chữ trong trường ca Khúc lãng du cụ Mén của Doanh nhân Phạm Hồng Điệp. Chữ và nghĩa sinh sôi nẩy nở theo bước chân kì thú của nhân vật cụ Mén. Nếu câu thơ là đơn vị cơ bản của bài thơ thì chữ là hạt nhân tạo nên bắn phá và tạo sinh năng lượng của thơ. Ngồn ngộn chữ và nghĩa trong trường ca độc đáo Khúc lãng du cụ Mén. Vấn đề là từ đâu phát tiết ra sự phì nhiêu chữ nghĩa? Một lần đọc Sử kí Tư Mã Thiên tôi ghi lại một ý chủ đạo: Nhà viết sử không thể ỷ lại vào sử liệu, sử sách (văn tự) mà còn cần thấu thị sử sống (sử đời trong dân gian). Tương tự, tôi thấy vốn liếng chữ nghĩa của tác giả trong trường ca Khúc lãng du cụ Mén bắt nguồn, cắm rễ từ kho tàng giàu có vô tận của Folklore (Văn hóa dân gian: từ thần toại, truyền thuyết, ca dao dân ca, đến tục ngữ, thành ngữ, cổ tích, tiếu lâm,...). Đọc văn biết chủ thể sáng tác có năng lực đi theo đại lộ văn hóa - đến hiện đại từ truyền thống.
Vẻ đẹp của lao động và người lao động, qua hình tượng cụ Mén, vừa là tấm gương của đời thực, vừa là một huyền thoại, luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trường ca Khúc lãng du cụ Mén của Doanh nhân Phạm Hồng Điệp. Văn chương hiện thời đang lâm li với bi kịch, cái cô đơn, cái phi lí, vùng vẫy trong các trào lưu Hậu (Hậu hiện đại, Hậu thực dân), Phi lí, Phân tâm học,... với những mê cung, mê lộ, mê tơi sự đời nước mắt soi gương. Nhưng rất ít tác phẩm hướng tới chủ đề /đề tài “tam nông” (nông thôn – nông nghiệp – nông dân). Có thể gọi Khúc lãng du cụ Mén là một bài ca về vẻ đẹp của lao động và người lao động – nguồn gốc của sinh thành và phát triển bền vững. Hơn bao giờ hết các thế hệ trẻ tiếp theo cần thấm nhuần giá trị của lao động sáng tạo nên cuộc sống và các thành tựu của nhân loại nói chung, đất nước mình nói riêng.
Khúc lãng du cụ Mén là khúc khải hoàn ca ngợi tình đoàn kết keo sơn của các dân tộc anh em trên dải đất hình chữ S. Đồng thời là bài học thấm thía sâu sắc về sức mạnh tinh thần đoàn kết vô song “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”, bởi vì “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lí ấy không bao giờ thay đổi” (Chủ tịch Hồ Chí Minh)..
Hà Nội, 4-2026