Ngành Nông nghiệp và Môi trường chung sức, đồng hành quản lý, sử dụng tài nguyên bền vững và xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh, môi trường trong lành
1. Xây dựng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh
Bước vào năm 2026, đất nước ta đón nhận một thời khắc mang tính lịch sử khi đây là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, mở ra giai đoạn phát triển mới với khát vọng đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, thịnh vượng, giàu mạnh của dân tộc. Năm 2026 đồng thời là năm khởi đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm giai đoạn 2026-2030 với mục tiêu tăng trưởng ở mức hai con số, tạo nền tảng để hiện thực hóa tầm nhìn dài hạn đến giữa thế kỷ XXI. Đây cũng là năm thứ tư thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đặt ra yêu cầu cao đối với việc tái cơ cấu toàn diện khu vực nông nghiệp và phát triển nông thôn bền vững. Trong bối cảnh đó, ngành Nông nghiệp và Môi trường mang trên vai sứ mệnh kép: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nông nghiệp bứt phá, đồng thời bảo vệ môi trường, quản lý chặt chẽ tài nguyên nhằm bảo đảm cân bằng sinh thái cho các thế hệ mai sau.
Để hiện thực hóa khát vọng lớn lao ấy, toàn ngành đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững và hội nhập sâu rộng. Phương châm hành động được xác định rõ ràng là kỷ cương trách nhiệm; chủ động hiệu quả; đổi mới sáng tạo; tăng tốc đột phá; tăng trưởng bền vững. Tinh thần đó thấm sâu vào từng chương trình, dự án, từng địa phương và từng phân ngành, tạo nên khí thế mới cho toàn hệ thống.
Trọng tâm xuyên suốt là xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Nền nông nghiệp Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi về chất với yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với bền vững, hiệu quả gắn với trách nhiệm xã hội và môi trường. Thay cho tư duy chạy theo sản lượng thuần túy, ngành chuyển mạnh sang phát triển sản xuất nông lâm thủy sản hàng hóa tích hợp đa giá trị, dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương. Các chuỗi sản xuất được tổ chức theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, quản trị tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. An ninh lương thực và an ninh dinh dưỡng tiếp tục được bảo đảm vững chắc, song song với mục tiêu giảm phát thải và thích ứng biến đổi khí hậu.
Phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn trở thành xu thế chủ đạo. Nhiều mô hình canh tác tiết kiệm nước, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật sinh học, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp để sản xuất năng lượng và phân hữu cơ được nhân rộng. Hệ thống lương thực thực phẩm được chuyển đổi theo hướng xanh, ít phát thải, minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc. Khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đóng vai trò then chốt trong toàn bộ quá trình, từ quản lý sản xuất, dự báo thị trường đến kết nối tiêu thụ.
Trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi, tổ chức lại sản xuất theo vùng chuyên canh gắn với chỉ dẫn địa lý, mã số vùng trồng, vùng nuôi được đẩy mạnh. Hệ thống truy xuất nguồn gốc được chuẩn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu khắt khe của các thị trường xuất khẩu lớn. Kinh tế hợp tác được xác định là trụ cột trong tổ chức sản xuất, với mục tiêu phấn đấu cả nước có 16.000 hợp tác xã nông nghiệp xếp loại khá, tốt, chiếm 67,7% trên tổng số 23.600 hợp tác xã. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến, phân phối ngày càng chặt chẽ, tạo nên chuỗi giá trị bền vững và nâng cao thu nhập cho người sản xuất.
Đối với lâm nghiệp, ngành cam kết bảo vệ và phát triển bền vững diện tích rừng hiện có, duy trì tỷ lệ che phủ rừng ổn định ở mức 42,02%. Công tác quản lý rừng được tăng cường thông qua ứng dụng công nghệ viễn thám, giám sát cháy rừng và kiểm soát khai thác. Giá trị đa dụng của hệ sinh thái rừng được phát huy mạnh mẽ, từ cung cấp gỗ hợp pháp, lâm sản ngoài gỗ đến dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái. Lâm nghiệp chuyển dần từ khai thác tài nguyên sang kinh tế rừng dựa trên quản trị bền vững và chứng chỉ quốc tế.
Trong lĩnh vực thủy sản và kinh tế biển, định hướng phát triển nuôi biển quy mô công nghiệp được đặt ở vị trí trung tâm. Sản lượng khai thác ven bờ được điều chỉnh giảm dần, thay vào đó là nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ gắn với bảo tồn nguồn lợi thủy sản. Nhiệm vụ tháo gỡ cảnh báo “Thẻ vàng” của Ủy ban Châu Âu được triển khai quyết liệt thông qua kiểm soát chặt chẽ tàu cá, giám sát hành trình và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm khai thác bất hợp pháp. Các trung tâm nghề cá lớn tiếp tục được đầu tư, hình thành chuỗi dịch vụ hậu cần hiện đại, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và vị thế của thủy sản Việt Nam.
Phát triển nông thôn toàn diện và nâng cao đời sống nông dân là mục tiêu tối thượng của mọi chính sách. Ngành hướng tới tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống và nâng cao vị thế của người nông dân trong chuỗi giá trị. Việc tạo việc làm phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn được thúc đẩy nhằm đa dạng hóa sinh kế, giảm áp lực di cư và bảo đảm an sinh xã hội. Toàn ngành phấn đấu tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới tăng tối thiểu 15%; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm từ 1-1,5%; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm 3%. Hạ tầng nông thôn tiếp tục được đầu tư đồng bộ, trong đó tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn hướng tới 62%, góp phần nâng cao chất lượng sống và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Song hành với phát triển sản xuất, công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được siết chặt. Tài nguyên đất, nước, khoáng sản được quy hoạch và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả. Công tác kiểm soát ô nhiễm, xử lý chất thải nông nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học được tăng cường. Tư duy phát triển dựa trên khai thác tối đa tài nguyên dần được thay thế bằng tư duy kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.
Với những giải pháp đồng bộ và quyết liệt, ngành Nông nghiệp và Môi trường tự tin đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP toàn ngành đạt 3,7% trong năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản kỳ vọng đạt 73-74 tỷ USD. Những con số đó không đơn thuần là chỉ tiêu kinh tế, thể hiện quyết tâm chính trị cao, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của một ngành kinh tế trụ đỡ trong tiến trình phát triển đất nước. Năm 2026 vì thế trở thành điểm khởi đầu cho hành trình tăng tốc, bứt phá, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, sinh thái và hội nhập sâu rộng, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao trong tương lai.
2. Quản lý tài nguyên bền vững và bảo vệ môi trường trong lành
Phát triển kinh tế không thể đánh đổi bằng môi trường. Bước sang năm 2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt trọng tâm vào sứ mệnh phát huy hiệu quả các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên phục vụ phát triển kinh tế xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Định hướng xuyên suốt là từng bước xây dựng nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường, giảm phát thải, tăng khả năng chống chịu của hệ sinh thái và cộng đồng dân cư trước các cú sốc khí hậu ngày càng gia tăng.
Kiểm soát ô nhiễm và suy thoái hệ sinh thái được xác định là nhiệm vụ cấp bách. Ngành kiên quyết khống chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, ngăn chặn sự suy giảm đa dạng sinh học, bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước quan trọng. Các hệ sinh thái tự nhiên như rừng ngập mặn, đầm phá, bãi triều được xem là “lá chắn xanh” trước thiên tai và nước biển dâng nên cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Song song với đó là xử lý căn cơ các điểm nóng ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các đô thị lớn và khu vực tập trung nhiều hoạt động công nghiệp.
Đề án xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm không khí tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng với hệ thống giải pháp đồng bộ, từ kiểm soát nguồn thải giao thông, công nghiệp đến mở rộng không gian xanh đô thị. Các dòng sông chảy qua đô thị được rà soát, đánh giá toàn diện mức độ ô nhiễm để có lộ trình xử lý triệt để, gắn với mục tiêu xây dựng đô thị xanh, sạch, đẹp, hiện đại, văn minh. Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn phấn đấu đạt 95%, qua đó giảm áp lực lên bãi chôn lấp và hạn chế ô nhiễm thứ cấp.
Biến đổi khí hậu tiếp tục là thách thức mang tính toàn cầu, tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư. Ngành nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và ứng phó thiên tai, đặc biệt đối với lũ ống, lũ quét, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Các chương trình thích ứng biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long được triển khai hiệu quả nhằm bảo vệ sinh kế hàng triệu người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất phù hợp điều kiện xâm nhập mặn và hạn hán. Tại miền Trung, Tây Nguyên và miền Bắc, các giải pháp phòng chống lũ lụt, sạt lở, khô hạn được tăng cường thông qua đầu tư hạ tầng phòng chống thiên tai và củng cố hệ thống cảnh báo cộng đồng.
Đối với các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, các giải pháp chống ngập được lồng ghép trong quy hoạch phát triển đô thị, kết hợp giữa hạ tầng kỹ thuật và giải pháp dựa vào thiên nhiên. Những khu vực có giá trị văn hóa và sinh thái đặc biệt, bao gồm các điểm di sản thế giới, được chú trọng bảo vệ trước nguy cơ tác động của khí hậu cực đoan.
Thực hiện các cam kết quốc tế là nội dung trọng tâm trong chiến lược phát triển bền vững. Việt Nam tích cực triển khai các sáng kiến và nghĩa vụ tại COP26 và COP28, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng không vào giữa thế kỷ. Bộ đề xuất phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các lĩnh vực có mức phát thải lớn, đồng thời tổ chức vận hành thí điểm thị trường các-bon ở một số ngành trọng điểm. Cơ chế thị trường được kỳ vọng tạo động lực kinh tế cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ sạch, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên.
Bảo đảm an ninh nguồn nước là ưu tiên hàng đầu trong bối cảnh nguồn nước chịu áp lực từ phát triển kinh tế và biến đổi khí hậu. Mục tiêu đặt ra là 100% hồ chứa thủy điện lớn đang vận hành được kiểm soát và giám sát trực tuyến, bảo đảm an toàn công trình và điều tiết hợp lý nguồn nước. Khoảng 700 công trình hồ chứa thủy điện, thủy lợi sẽ được xác định và công bố dòng chảy tối thiểu sau đập nhằm duy trì hệ sinh thái sông ngòi và quyền lợi của cộng đồng hạ du. Việc theo dõi, giám sát vận hành theo quy trình liên hồ được siết chặt, bảo đảm 100% hồ chứa kết nối và cung cấp dữ liệu hằng ngày cho cơ quan quản lý.
Hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên nước xuyên biên giới được tăng cường, đặc biệt đối với Sông Mê Công và Sông Hồng. Việt Nam chủ động trao đổi thông tin, phối hợp với các quốc gia thượng nguồn và tổ chức quốc tế nhằm bảo vệ, khai thác hiệu quả và bền vững các dòng sông quan trọng, giảm thiểu rủi ro do thay đổi dòng chảy và phát triển thủy điện.
Trong lĩnh vực đất đai và khoáng sản, các giải pháp huy động hiệu quả nguồn lực tài chính từ đất đai, tài nguyên và khoáng sản chiến lược được triển khai đồng bộ. Hệ thống bản đồ số địa chính được hoàn thiện trên phạm vi toàn quốc, bảo đảm 100% xã có bản đồ địa chính chuẩn hóa. Cơ sở dữ liệu đất đai tại các địa phương được đẩy nhanh xây dựng và tích hợp lên cơ sở dữ liệu quốc gia, tạo nền tảng cho quản lý minh bạch, giảm tranh chấp và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Để khơi thông nguồn lực và tạo động lực phát triển cho doanh nghiệp, cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được xác định là nhiệm vụ trọng tâm. Tư duy xây dựng pháp luật chuyển từ quản lý sang kiến tạo, phát triển, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Bộ đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên nền tảng dữ liệu số, hạn chế yêu cầu cung cấp lại giấy tờ đã được số hóa.
Mục tiêu năm 2026 bao gồm cắt giảm 100% điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, bãi bỏ toàn bộ điều kiện của ngành nghề không thuộc danh mục đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư, giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục và 50% chi phí tuân thủ so với năm 2024. Phương thức hậu kiểm dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn rõ ràng được áp dụng mạnh mẽ, thay thế dần cơ chế tiền kiểm. Phân công, phân cấp thực hiện theo tiêu chí “6 rõ” nhằm đạt mục tiêu “3 dễ”, đồng thời tăng cường kỷ luật hành chính theo tinh thần “3 có” và “2 không”.
Chuyển đổi số giữ vai trò chiến lược. Ngành tập trung phát triển hạ tầng số, nền tảng số và hệ thống dữ liệu tập trung, thống nhất, an toàn. Cơ sở dữ liệu lớn bao gồm dữ liệu đất đai, thị trường nông sản, nguồn thải và tài nguyên nước được hoàn thiện, phục vụ quản lý, chỉ đạo điều hành dựa trên dữ liệu thời gian thực. Mục tiêu nâng cao vị thế quốc gia trên bảng xếp hạng quốc tế được cụ thể hóa bằng việc phấn đấu tăng ít nhất 3 bậc về chỉ số Quyền tài sản của Liên minh Quyền tài sản, nâng Chỉ số cải cách hành chính lên 84,7% và Chỉ số hài lòng của người dân đạt 86%.
Thành công của kế hoạch phụ thuộc vào quyết tâm và trách nhiệm của toàn hệ thống. Các đơn vị trực thuộc chịu trách nhiệm toàn diện về chất lượng và tiến độ nhiệm vụ được giao, chấm dứt tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm. Công tác truyền thông được đẩy mạnh nhằm tạo đồng thuận xã hội, khuyến khích đổi mới sáng tạo và nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, chuyển đổi của ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2026 là cam kết mạnh mẽ về phát triển bền vững. Từ quản lý sang kiến tạo, từ tăng trưởng theo chiều rộng sang nâng cao chất lượng sinh thái, ngành đặt nền móng cho nền kinh tế xanh, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích kinh tế, môi trường và xã hội, góp phần đưa đất nước tiến nhanh trên con đường thịnh vượng lâu dài./.
- 10 sự kiện nổi bật của ngành Nông nghiệp và Môi trường năm 2025
- Chính phủ ban hành quy định mới về tính tiền sử dụng khi chuyển đất vườn và nông nghiệp sang đất ở
- Tăng trưởng xanh góp phần thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng