Việt Nam đang triển khai những bước đầu của quá trình chuyển đổi năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo xanh và và sạch hơn.
Việt Nam đang triển khai những bước đầu của quá trình chuyển đổi năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo xanh và và sạch hơn.

Việt Nam tích cực, chủ động triển khai bài bản các cam kết tại COP26

Báo cáo về tình hình triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, tại COP26, Việt Nam đã cùng 147 quốc gia cam kết đưa mức phát thải ròng về "0" vào giữa thế kỷ; cùng với 103 quốc gia tham gia Cam kết giảm phát thải khí methanol toàn cầu; cùng 140 quốc gia tham gia Tuyên bố Glasgow của các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất; cùng 48 quốc gia tham gia Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch; cùng 150 quốc gia tham gia Liên minh hành động thích ứng toàn cầu.

Việt Nam đang tích cực, chủ động triển khai một cách bài bản các cam kết quốc tế, đặc biệt là các cam kết kể từ Hội nghị COP26 đến nay và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Sau COP26 và COP27, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia đã triển khai thực hiện cam kết; các bộ, ngành, cơ quan liên quan đã tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều đề án, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hành động.

Lãnh đạo Chính phủ và lãnh đạo các bộ, ngành cũng đã làm việc với lãnh đạo của các tổ chức quốc tế, các quốc gia và các định chế tài chính quốc tế để thúc đẩy tiếp cận các nguồn lực tài chính, tri thức và công nghệ, mở nhiều cơ hội hợp tác phát triển, hướng tới chuyển đổi xanh, phát thải carbon thấp.

Doanh nghiệp hướng tới chuyển đổi xanh và một số rào cản

Những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày cần sớm chuyển đổi xanh. Ảnh minh họa.
Những ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày cần sớm chuyển đổi xanh.
Ảnh minh họa.

Để hiện thực hóa được mục tiêu tăng trưởng xanh mà Việt Nam đặt ra, cần cộng hưởng nhiều yếu tố. Trong đó, trách nhiệm và hành động của cộng đồng doanh nghiệp là vô cùng quan trọng.

Theo OECD, “Tăng trưởng Xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời đảm bảo các nguồn tài sản tự nhiên tiếp tục cung cấp các tài nguyên và dịch vụ môi trường thiết yếu cho cuộc sống của chúng ta. Để thực hiện điều này, Tăng trưởng Xanh phải là nhân tố xúc tác trong việc đầu tư và đổi mới, là cơ sở cho sự tăng trưởng bền vững và tăng cường tạo ra các cơ hội kinh tế mới.”

Theo đánh giá của Ủy ban châu Âu, hiện kinh tế xanh đang là xu hướng phát triển tất yếu của các quốc gia trên thế giới, với quy mô thị trường cho các sản phẩm và dịch vụ xanh lên tới khoảng 5.000 tỷ USD. Dự báo đến năm 2030, nền kinh tế xanh sẽ tạo ra thêm 24 triệu việc làm mới trên toàn cầu...

Nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế xanh/tăng trưởng xanh, ngay từ Hội nghị lần thứ 3 khóa XI, Đảng ta đã nhấn mạnh nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế nhằm thực hiện định hướng phát triển bền vững của đất nước. Mục tiêu của việc đổi mới mô hình tăng trưởng là nhằm phát triển theo chiều sâu, tiết kiệm tài nguyên gắn với việc đảm bảo nâng cao công bằng và tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường, phát huy lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, từ khi chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế gắn với cơ cấu lại nền kinh tế theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, gắn phát triển nhanh với phát triển bền vững dựa vào khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, hạn chế sử dụng tài nguyên không có khả năng tái tạo, nhiều định hướng và chiến lược về tăng trưởng xanh, phát triển bền vững đã được ban hành, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.

Cụ thể, năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Đây là chiến lược quốc gia đầu tiên, toàn diện về lĩnh vực phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam.

Tiếp đó, năm 2021, Chính phủ đã ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050, thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong thực hiện phát triển bền vững, thông qua các hành động thiết thực, cụ thể.

Cùng với đó, tại hội nghị Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu năm 2021 (COP26), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã nêu cam kết của Việt Nam trong việc “sẽ xây dựng và triển khai các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính mạnh mẽ hơn nữa bằng nguồn lực của mình, cùng với sự hợp tác và hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, cả về tài chính và chuyển giao công nghệ, trong đó có thực hiện các cơ chế theo Thỏa thuận Paris, để đạt mức phát thải ròng bằng ‘0’ vào năm 2050”.

PGS.TS Đinh Trọng Thịnh (giảng viên cao cấp Học viện Tài chính) cho biết, “xanh hóa” đã trở thành yều cầu tất yếu và “luật chơi” mới trên thị trường trong nước và nước ngoài. Tại thị trường trong nước, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xanh và môi trường sống an toàn, bảo vệ thiên nhiên ngày càng được sự quan tâm của xã hội. Không dừng lại đó, với nền kinh tế định hướng về xuất khẩu như Việt Nam, việc chuyển đổi xanh của các doanh nghiệp được xem là tất yếu và sống còn. Gần đây nhất, Liên minh Liên minh châu Âu (EU) vừa thông báo, bắt đầu từ ngày 1/10/2023, EU sẽ áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) ở giai đoạn chuyển tiếp. Đây là công cụ chính sách của EU nhằm đánh thuế carbon đối với tất cả hàng hóa nhập khẩu vào thị trường EU dựa trên cường độ phát thải khí nhà kính trong quy trình sản xuất nước xuất khẩu.

Ở góc độ doanh nghiệp, Giám đốc Nghiên cứu Phát triển và Phát triển bền vững (Tập đoàn PAN) Nguyễn Trung Anh cho biết, nhiều khách hàng từ EU của PAN rất coi trọng việc truy dấu vết carbon trên sản phẩm. Vì vậy, Tập đoàn phải thực hiện kiểm kê carbon và giải pháp giảm dấu vết carbon trên từng sản phẩm của mình.

Thời gian qua, nhiều tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đã có những hành động đồng hành cùng Chính phủ, triển khai nghiên cứu và giảm dần các nguồn năng lượng hóa thạch, xây dựng kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính.

Có thể kể đến Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã rà soát, đề xuất sửa đổi văn quy phạm pháp luật và cập nhật, bổ sung cơ chế chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển của từng ngành, lĩnh vực phù hợp với cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050; xây dựng hướng dẫn kiểm kê khí nhà kính cho cơ sở; ban hành Kế hoạch hành động giảm phát thải khí metan đến năm 2030; xây dựng mô hình phát triển ngân hàng xanh; khuyến khích các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tài trợ, cho vay ưu đãi đối với các dự án thuộc phân loại xanh

Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã xây dựng kế hoạch, kiểm soát nhu cầu khai thác và sử dụng nhiên liệu than thực hiện mục tiêu chuyển đổi năng lượng sạch theo lộ trình phù hợp với cam kết; không phát triển thêm nguồn nhiệt điện than mới sau năm 2030.

TKV cũng triển khai kiểm kê thải khí nhà kính tại các cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc Tập đoàn; kiểm soát khí thải từ các nhà máy nhiệt điện, luyện kim, sản xuất xi măng; nâng cao năng lực xử lý bụi ở các bãi thải, kho than, bến cảng; tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp nhận công nghệ xử lý rác thải, nước thải; nghiên cứu thử nghiệm trồng cây trên khu vực sau khai thác mỏ tại Tây Nguyên; áp dụng các biện pháp giảm phát thải khí methanol trong các hoạt động.

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đưa ra thị trường các sản phẩm xăng dầu có tiêu chuẩn khí thải thấp, xăng dầu sinh học; tham gia thị trường hạ tầng năng lượng cho xe điện (cuối năm 2022 đã phối hợp với Vinfast lắp đặt 100 trạm sạc điện tại các cửa hàng xăng dầu Petrolimex); tổ chức nghiên cứu chiến lược các dòng sản phẩm mới như hydrogen, eFuels để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch trong tương lai.

Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam tiếp tục triển khai một số dự án phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối; xây dựng phương án quản lý rừng bền vững và được Hội đồng quản trị rừng thế giới cấp chứng chỉ quản lý rừng theo tiêu chuẩn FSC cho 4/9 đơn vị lâm nghiệp; đẩy mạnh trồng rừng mới để nâng cao độ che phủ hấp thụ khí nhà kính, chấm dứt trợ cấp cho ngành công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch; có chính sách hoàn trả carbon dành riêng các ngành công nghiệp hoặc nông nghiệp khó cắt giảm khí thải.

Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam đã triển khai xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn nhập khẩu, sản xuất, đóng mới, chuyển đổi, hoán cải phương tiện giao thông vận tải đường sắt sử dụng điện, năng lượng xanh; xây dựng các chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp sản xuất, vận tải trong quá trình chuyển đổi từ phương tiện, trang thiết bị sử dụng năng lượng hóa thạch sang năng lượng xanh.

Một số tập đoàn, tổng công ty lớn đang triển khai xây dựng đề án nghiên cứu, phát triển năng lượng mới như hydrogen… theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Các tập đoàn đa quốc gia như Nestle, Equinor, Grab… sẵn sàng hợp tác với các cơ quan thuộc Chính phủ để thực hiện mục tiêu đạt phát thải ròng bằng "0" trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Dù phát triển xanh là một trong những hướng đi tất yếu mà Việt Nam đang theo đuổi nhưng con đường tiến tới "nền kinh tế xanh" đang đối diện với rất nhiều khó khăn, thách thức. Ðiển hình như hiệu quả sử dụng tài nguyên còn thấp, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm suy thoái ở mức cao, công nghệ sản xuất nước ta còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng.

Ðiều này dẫn tới chất lượng sản phẩm thấp, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường, kèm với đó là tốc độ gia tăng phát thải khí nhà kính cao, dạng sinh học suy giảm, tài nguyên không tái tạo cạn kiệt, tác động biến đổi khí hậu gia tăng,...

Chỉ ra những "lực cản" cơ bản trong quá trình thực hiện phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam đã được xác định, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Ðậu Anh Tuấn cho rằng, mức độ hiểu biết, quy định môi trường của doanh nghiệp Việt Nam mới ở giai đoạn ban đầu.

Khảo sát doanh nghiệp của VCCI cho thấy, chỉ có 31,8% doanh nghiệp tư nhân trong nước hiểu rõ các quy định môi trường, 68% doanh nghiệp bị ảnh hưởng tiêu cực bởi biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, dù mức độ tuân thủ quy định môi trường của doanh nghiệp đang được cải thiện nhưng chưa cao, do khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Các vấn đề nhận thức về kinh tế xanh hiện nay ở Việt Nam vẫn khá mới mẻ, nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được trách nhiệm với môi trường hoặc không có nhân lực am hiểu về pháp luật môi trường trong khi các quy định về môi trường còn phức tạp, chưa dễ tiếp cận, chi phí tuân thủ các quy định về môi trường còn cao. Số liệu khảo sát của VCCI cho thấy, 44% doanh nghiệp trong nước và 38% doanh nghiệp FDI thừa nhận chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về môi trường.

Theo đánh giá của ông Phan Văn Việt, Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan TP Hồ Chí Minh, hiện nay chỉ mới có khoảng 15% -16% doanh nghiệp dệt may đã và đang chuyển đổi xanh. Thực tế, nhiều doanh nghiệp có tâm lý chờ đợi thị trường hồi phục, mà không nhận thấy lúc này là cơ hội vàng để chuyển đổi xanh. Trong khi đó, Bangladesh có ưu thế là vì họ làm từ sớm, có nhiều chứng chỉ xanh, trong khi phần lớn họ chỉ sản xuất hàng thông thường chứ không sản xuất hàng chất lượng cao như Việt Nam.

Theo ông Việt, khó khăn lớn nhất hiện nay của doanh nghiệp khi chuyển đổi xanh, đó là làm sao phải giải quyết được các vấn đề quan trọng: Thứ 1, phải thay đổi được nhận thức của con người; Thứ 2, nhân viên thiết kế phải biết sử dụng nguồn nguyên liệu thân thiện môi trường như thế nào; Thứ 3, doanh nghiệp phải làm tốt trách nhiệm xã hội; Thứ 4, công nghệ phải thật tốt; và cuối cùng sản phẩm doanh nghiệp làm ra chất lượng rất cao, đồng nhất, nhưng giá rẻ. Vì vậy, để khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh, cần cơ chế chính sách giảm thuế của Nhà nước đối với các doanh nghiệp chuyển đổi xanh. Đồng thời, cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh được vay vốn để thực hiện chuyển đổi số và đầu tư công nghệ cao, nhằm giảm chi phí.

Với ngành chế biến gỗ, chuyên gia Phạm Phú Ngọc Trai cho rằng, ngoài những quy định bắt buộc hiện hành, doanh nghiệp Việt Nam sẽ đối diện với những đòi hỏi mới như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) do Ủy ban châu Âu (EC) đề xuất, có hiệu lực từ tháng 10/2023. Hàng hóa nhập khẩu vào thị trường châu Âu sẽ phải chịu thêm chi phí, nếu không chuyển đổi mô hình sản xuất ít phát thải hơn để có tín chỉ carbon.

Ðể làm được, các cơ quan liên quan cần nâng cao hiệu quả công tác phổ biến chính sách, quy định để các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin; tiếp tục xây dựng, đa dạng hóa hơn nữa các chính sách ưu đãi doanh nghiệp đầu tư theo hướng sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, ít tiêu hao năng lượng, tài nguyên, phát thải thấp, thân thiện với môi trường; đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp; đồng thời, tăng cường khả năng tiếp cận nguồn vốn cho tăng trưởng xanh cho doanh nghiệp. Ðây được xem là nền tảng quan trọng cho sự phát triển bứt phá của Việt Nam trong thời gian tới.

Với tiềm lực hạn chế về tài chính và công nghệ, việc chuyển đổi sang sản xuất xanh, bền vững là điều không dễ dàng với nhiều doanh nghiệp. Tuy nhiên, để không bị loại khỏi cuộc chơi, các doanh nghiệp cần thay đổi tư duy, quan tâm tới “tính xanh” của chuỗi sản xuất và cung ứng.

Ngoài việc tăng cường sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ thiên nhiên, nguyên liệu tái chế, sử dụng năng lượng sạch, tái tạo, tiết kiệm năng lượng, các chuyên gia cho rằng, doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất; đồng thời, bảo đảm truy xuất nguồn gốc sản phẩm, chú trọng xây dựng bộ máy quản lý, giám sát và tuân thủ quy định về giảm phát thải khí nhà kính trong nước và quốc tế.