Sửa Luật Đầu tư phải tháo gỡ căn bản các điểm nghẽn về thể chế, chính sách
Tiếp tục chương trình làm việc tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, ngày 2/11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư và dự án Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi).
Phát biểu giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội tại phiên thảo luận ở hội trường, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư đã nhận được 55 lượt ý kiến tại phiên thảo luận tổ, cùng nhiều ý kiến góp ý bằng văn bản. Bộ Tài chính, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, đã xây dựng báo cáo tiếp thu, giải trình dài hơn 70 trang, tại phiên thảo luận ở hội trường, có thêm 15 đại biểu Quốc hội tham gia góp ý.
Giải trình về sự cần thiết sửa đổi Luật Đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, nhiều đại biểu Quốc hội đặt vấn đề vì sao Luật Đầu tư phải sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Đến nay, Luật đã trải qua 16 lần sửa đổi, bổ sung.
Theo Bộ trưởng, trước đây, việc sửa đổi Luật chủ yếu tập trung vào cắt giảm điều kiện, thủ tục đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu đặt ra không chỉ là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh mà còn phải khơi thông các nguồn lực, huy động vốn đầu tư phục vụ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, mục tiêu quan trọng của Luật Đầu tư là thu hút vốn và khơi thông nguồn lực để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong từng thời kỳ. Đặc biệt, để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên trong giai đoạn tới, nhu cầu vốn đầu tư là rất lớn. Theo tính toán được Bộ trưởng nêu, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần tăng khoảng 2,21 lần so với giai đoạn 2021-2025. Riêng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), Việt Nam cần thu hút bình quân khoảng 30-40 tỷ USD vốn giải ngân mỗi năm, không phải vốn đăng ký.
Bên cạnh yêu cầu tăng trưởng, việc sửa đổi Luật còn nhằm kịp thời thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), đáp ứng những yêu cầu mới về thu hút đầu tư, sử dụng nguồn lực đất đai và quy hoạch không gian phát triển.
“Một lý do đặc biệt quan trọng khác là cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia trong khu vực và trên thế giới đang diễn ra hết sức gay gắt”. Bộ trưởng nhấn mạnh như vậy và dẫn chứng, Philippines, Malaysia cũng như nhiều quốc gia đang triển khai các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào những lĩnh vực tương đồng với Việt Nam như điện tử, máy tính, điện thoại, chip bán dẫn và chuyển đổi số.
Ngoài khu vực, Ấn Độ cũng đang đẩy mạnh thu hút đầu tư với tham vọng trở thành trung tâm sản xuất điện thoại di động của thế giới, thông qua các chính sách hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp sản xuất.
"Chúng ta cần thu hút FDI thì các quốc gia khác cũng cần. Những lĩnh vực chúng ta ưu đãi thì họ cũng ưu đãi", Bộ trưởng nêu rõ, đồng thời cho rằng Việt Nam phải tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và hoàn thiện chính sách ưu đãi để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút các dự án lớn, nhất là trong những ngành công nghệ cao.
Liên quan đến chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật hướng đến thu hút đầu tư vào những ngành, nghề, lĩnh vực ưu tiên, nhất là đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và công nghệ cao.
Tuy nhiên, bên cạnh quy mô vốn, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, yêu cầu đặc biệt quan trọng là phải nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, gắn hoạt động của doanh nghiệp FDI với phát triển sản xuất trong nước.
Theo Bộ trưởng, cần có những tiêu chí để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị của doanh nghiệp nước ngoài, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và tác động lan tỏa của các dự án đầu tư đối với nền kinh tế.
Bộ trưởng khẳng định cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục hoàn thiện các quy định theo hướng "việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra", có thể kiểm tra, giám sát và lượng hóa được. Đặc biệt, phải quy định rõ các điều kiện chấm dứt ưu đãi, hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng yêu cầu, điều kiện hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Theo Bộ trưởng, đây là vấn đề cần được quy định chặt chẽ ngay trong quá trình xây dựng chính sách, nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực hỗ trợ đầu tư, đồng thời hạn chế phát sinh tranh chấp, khiếu kiện. Bởi lẽ, khi nhà đầu tư đã được hưởng ưu đãi nhưng không đáp ứng các điều kiện cam kết, nếu thiếu cơ chế xử lý rõ ràng sẽ rất khó khăn trong quá trình thực hiện. Đặc biệt, các tranh chấp đầu tư quốc tế thường hết sức phức tạp.
Do đó, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu tối đa ý kiến của các đại biểu để hoàn thiện quy định về điều kiện hưởng ưu đãi, tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện, cơ chế kiểm tra, giám sát và chấm dứt, thu hồi ưu đãi đối với các trường hợp vi phạm cam kết.Đối với vấn đề nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, Bộ trưởng cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp thu ý kiến của các đại biểu để hoàn thiện quy định. Những nội dung thuộc thẩm quyền của Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ được Chính phủ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung theo trình tự, thủ tục rút gọn, vừa bảo đảm đúng thẩm quyền, vừa đáp ứng yêu cầu tháo gỡ kịp thời các vướng mắc trong thực tiễn.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; thực hiện nghiêm các quy định về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật.
Đặc biệt, cần làm rõ những điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách trong hoạt động đầu tư và khả năng tháo gỡ căn bản thông qua các quy định sửa đổi, bổ sung. Việc hoàn thiện dự thảo Luật phải bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật, nhất là các quy định về đất đai, đấu thầu, ngân sách nhà nước, thuế; tránh chồng chéo, mâu thuẫn hoặc tạo khoảng trống pháp lý.
Cùng với đó, cần bảo đảm tính khả thi, ổn định của chính sách; rà soát kỹ các quy định chuyển tiếp và thời điểm có hiệu lực thi hành để tổ chức thực hiện hiệu quả.
Về nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định theo hướng bảo đảm đúng thẩm quyền, không làm thay đổi hoặc hạn chế hiệu lực các quy định thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng thời phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Dự thảo Luật cần quy định rõ nguyên tắc, lộ trình thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động, nhất là đối với các ngành, lĩnh vực nhạy cảm, bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh.
Đối với việc lựa chọn nhà đầu tư tại các dự án có sử dụng khu vực biển, Phó Chủ tịch Quốc hội yêu cầu rà soát, quy định chặt chẽ; xác định rõ ngay trong Luật phạm vi, tiêu chí, nguyên tắc áp dụng đối với các trường hợp chấp thuận nhà đầu tư không thông qua đấu giá, đấu thầu.
Đồng thời, hạn chế việc dẫn chiếu, mở rộng các trường hợp ngoại lệ tại văn bản quy định chi tiết, bảo đảm thống nhất với pháp luật về đấu thầu, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Về Quỹ Hỗ trợ đầu tư và chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Phó Chủ tịch Quốc hội đề nghị tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các quy định trên cơ sở đánh giá đầy đủ tác động, bảo đảm đúng thẩm quyền, khách quan, minh bạch và tăng cường cơ chế giám sát đối với nguồn tài chính quốc gia.
Đáng chú ý, đối với chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, cần xác định rõ ngay trong Luật các nguyên tắc, tiêu chí và điều kiện áp dụng, nhất là tiêu chí về tác động lan tỏa, tạo động lực phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phó Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh yêu cầu làm rõ cơ chế gắn ưu đãi, hỗ trợ đầu tư với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư, qua đó nâng cao hiệu quả chính sách, bảo đảm nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục tiêu.
Liên quan đến cơ chế hỗ trợ đầu tư của địa phương, cần xác định rõ phạm vi, giới hạn thẩm quyền của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm thống nhất với chính sách chung, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Bên cạnh đó, tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi, phát triển khu công nghiệp sinh thái; làm rõ điều kiện hưởng ưu đãi, cơ chế kiểm tra, giám sát, bảo đảm tính khả thi và thống nhất với các quy định pháp luật có liên quan.

