Phát triển công nghiệp văn hoá: Cần “xây chắc từ móng”
Trong kỷ nguyên số với sự giao thoa về mọi mặt giữa các quốc gia, công nghiệp văn hóa được xem là dạng “năng lực mềm” vừa có tác động thúc đẩy phát triển kinh tế vừa khơi dậy sức sáng tạo của con người nhằm nâng cao chất lượng sống của cộng đồng trong bối cảnh cạnh tranh của lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển.
Tiềm năng phát triển và lan tỏa bản sắc văn hóa
Năm 2025, Việt Nam phê duyệt Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, sáu ngành trọng điểm được ưu tiên phát triển gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phần mềm - trò chơi giải trí, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa. Đây được xem là bước đi phù hợp với xu thế, tạo bước đột phá cho ngành công nghiệp văn hóa mới sơ khai của Việt Nam.
Mặc dù những năm gần đây, các chương trình biểu diễn nghệ thuật tiêu biểu tại Việt Nam như âm nhạc thu hút hàng chục nghìn người tham gia, những bộ phim điện ảnh thu được hàng trăm tỷ xuất hiện ngày càng nhiều… nhưng đó chỉ là những sự kiện đơn lẻ, rời rạc mà chưa phát triển thành một hệ thống vững chắc. Ngược lại, cũng có không ít chương trình biểu diễn phải hủy gần sát giờ vì thu không đủ chi, số lượng bộ phim ra rạp thất bại hàng năm thậm chí cao hơn số phim thành công. Việt Nam cũng chưa xây dựng được những hiện tượng âm nhạc mang tính toàn cầu với những tour diễn vòng quay trái đất và được giới hâm mộ cuồng nhiệt từ nhiều quốc gia như nhóm nhạc Black Pink, BTS hay Big Bang của Hàn Quốc, những Taylor Swift (Mỹ)…Văn hóa Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản…từng bước được thâm nhập vào cộng đồng thông qua phim ảnh.
Để định vị Việt Nam trên thị trường công nghiệp văn hóa thế giới vốn còn rất mờ nhạt, chưa có điểm nhấn, có chăng nhắc đến Việt Nam là sự ghi nhận cảnh quan thiên nhiên đẹp, con người thân thiện với bản sắc văn hóa riêng. Việt Nam vẫn còn cách xa những nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển bởi họ đã xây dựng được đế chế vững mạnh với rất nhiều dịch vụ đi kèm, từ đó tạo ra nhiều việc làm với nguồn thu khổng lồ và có xu hướng tiếp tục tăng trưởng. Hơn nữa, ngành công nghiệp văn hóa tác động sâu sắc đến nhận thức của công chúng, hình thành nên các trào lưu mới từ thời trang, lối sống, ẩm thực…
Mỗi quốc gia có con đường phát triển công nghiệp văn hóa khác nhau, thành công hay thất bại của họ chính là những bài học quý, là những “phép thử” để Việt Nam tìm được hướng đi chắc chắn ngay từ xuất phát điểm, tận dụng rút ngắn thời gian để có những bước phát triển mang tính đột phá, tương xứng với tiềm năng và quan trọng hơn Việt Nam có thể thông qua công nghiệp văn hóa để bảo tồn, phát triển và lan tỏa những giá trị văn hóa đến với cộng đồng. Công nghiệp văn hóa phát triển dựa trên các yếu tố cơ bản: bản sắc dân tộc, khả năng sáng tạo của con người và phương thức biến những giá trị ấy thành sản phẩm, dịch vụ tiêu biểu, khác biệt. Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa của Việt Nam được thể hiện rõ trong các văn bản, Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển công nghiệp văn hóa theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi nhằm bảo vệ những sản phẩm sáng tạo, tiến tới xóa bỏ vấn nạn “ăn cắp bản quyền” đang được tăng cường đẩy mạnh. Trong thời gian ngắn sắp tới, Luật Công nghiệp văn hóa khi được thông qua sẽ “mở đường” cho những chính sách hỗ trợ công nghiệp văn hóa phát triển, trong đó có những ưu đãi liên quan đến thuế, đào tạo nhân lực, hình thành các Quỹ hỗ trợ sáng tạo, các chính sách hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm văn hóa…
Những hạn chế cần nhìn nhận khách quan
Mỗi lĩnh vực hình thành nên công nghiệp văn hóa đều có lợi thế riêng, kết hợp với sự hỗ trợ của công nghệ số làm tăng khả năng tiếp cận công chúng một cách dễ dàng và nhanh chóng, từ đó có thể dẫn dắt xu hướng tiêu dùng, tạo hiệu ứng lan tỏa tới các lĩnh vực như ẩm thực, thời trang, du lịch… Từ những hiệu ứng này, có thể tạo sinh kế cho cộng đồng và gia tăng giá trị xuất khẩu. Việt Nam có di sản là nguyên liệu, công cụ là công nghệ, sự sáng tạo, tài năng của người Việt và hành lang pháp lý cơ bản, đó là những tiền đề để công nghiệp văn hóa phát triển. Nhưng để phát triển bền vững với một hệ thống hoàn chỉnh thì các yếu tố trên, nhất là nhân lực chuyên nghiệp và tính liên kết ngành của Việt Nam còn chưa đủ mạnh.
Việt Nam còn yếu trong xây dựng nội dung, chưa có “câu chuyện hấp dẫn” lựa chọn hình ảnh chưa đủ độ “đẹp đến kinh ngạc” đến cách truyền tải những di sản, những khác biệt thành một sản phẩm, dịch vụ cụ thể có tính cạnh tranh cao, đặc biệt là giữa các lĩnh vực phát triển còn rời rạc mà chưa tạo được sự gắn kết, lồng ghép, bổ trợ lẫn nhau trong các sản phẩm văn hóa như phim ảnh, ca nhạc, quảng cáo, trò chơi, du lịch... Quan trọng hơn, những giá trị ấy cần được quốc tế hóa, phù hợp với xu thế và có thể xuất khẩu. Đặc biệt, một nền công nghiệp văn hóa phát triển mạnh cần đội ngũ nhân lực chất lượng cao, một bộ phim hấp dẫn chắc chắn được tạo nên từ biên kịch, đạo diễn, diễn viên…xuất sắc. Nghệ thuật biểu diễn ấn tượng cần nhóm nhạc hay, ca sỹ vượt trội, âm nhạc đỉnh cao… Trò chơi điện tử thu hút mọi người được tạo nên bởi sự kích thích mang tính bùng nổ, nhu cầu khám phá, thử thách giới hạn bản thân của mỗi người… Để đáp ứng những yêu cầu đó cần đội ngũ nhân lực của từng lĩnh vực không chỉ đông về số lượng để cạnh tranh và phát triển mà thực sự phải có tài năng xuất chúng mới có thể tạo nên được sản phẩm sáng tạo mang tính khác biệt và có thể xuất khẩu.
Tăng cường đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa
Từ định hướng mang tính chiến lược xác định đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa với mục tiêu đến năm 2030 ngành này đóng góp 7% GDP (tăng 3% so với hiện tại), quy hoạch đồng bộ, đầu tư hiện đại phần lớn các trung tâm công nghiệp văn hóa, khẳng định được vị thế trên thị trường quốc tế, xây dựng thành công từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong các ngành công nghiệp văn hóa… Trong đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là đơn vị có trách nhiệm phối hợp với các đơn vị liên quan để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững. Bên cạnh việc tăng cường sửa đổi và tiếp tục hoàn thiện các Luật liên quan đến phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khuyến khích sự tham gia của cả xã hội đồng thời kịp thời ngăn chặn những hành vi đi ngược với lợi ích chính đáng của những người sáng tạo trong lĩnh vực này. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tạo cơ chế để các tổ chức cùng chung tay, mở ra nhiều sân chơi nhằm tìm kiếm, phát hiện và có chính sách phù hợp để đào tạo nhân tài trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Kinh nghiệm của các nước có nền công nghiệp văn hóa phát triển cần được nghiên cứu, học hỏi, tìm hướng đi phù hợp với hiện trạng của Việt Nam.
Chúng ta không thể sao chép lấy mô hình thành công của bất kỳ nước nào áp dụng tại Việt Nam. Đã là sản phẩm văn hóa thì cần phải được xây dựng dựa trên sự khác biệt từ nội tại nền văn hóa Việt Nam, nếu được xây dựng từ ý tưởng đến thực hiện bởi ê-kíp người Việt Nam thì càng tốt. Đồng thời Việt Nam cũng có thể tận dụng nhân lực chuyên nghiệp từ nước ngoài (nhưng chỉ giới hạn ở mức hỗ trợ nhất định) để sản phẩm mang tầm quốc tế. Muốn vậy, bài học thành công của bóng đá Việt Nam là một ví dụ rất đáng học tập. Thành quả ấy được bắt đầu từ nền móng của những câu lạc bộ tuyển chọn những tài năng bóng đá từ nhỏ, kinh qua cả thập kỷ để sàng lọc, huấn luyện, bao gồm cả việc tận dụng cầu thủ ngoại nhập. Việt Nam có nhân tài toán học, tin học, vật lý, hóa học, sinh học… được đào tạo từ sớm và luôn giành thứ hạng cao so với thế giới. Tất cả đều trải qua nhiều công đoạn tìm kiếm, phát hiện, đào tạo và cần thời gian cọ sát với thực tế. Công nghiệp văn hóa cũng vậy. Việt Nam đã xác định đây là lĩnh vực phát triển trọng điểm, phải xây chắc ngay từ nền móng mới phát triển bền vững. Lĩnh vực sáng tạo đánh giá cao yếu tố con người.
Có thể nói, tại Việt Nam các “lò luyện” tài năng nhí trong lĩnh vực này chưa phát triển đủ mạnh. Một Hàn Quốc với nhiều nhóm nhạc thành công bởi họ có hệ thống đào tạo các nhóm chuyên nghiệp ngay từ đầu. Theo xu thế, muốn thành công trong lĩnh vực âm nhạc thì tính chuyên nghiệp, khả năng sáng tạo, tính chủ động của từng cá nhân hoặc sự kết hợp nhóm với mỗi thành viên là trụ cột có thể cho ra đời các sản phẩm độc lập chính là con đường thành công vững chắc. Tài năng điện ảnh cho những vị trí đạo diễn, biên kịch cũng cần được nuôi dưỡng từ sớm. Việt Nam nên có chính sách khuyến khích các chương trình xã hội hội hóa, hình thành nên các Quỹ phát triển tài năng trẻ, cơ chế ưu đãi về thuế, lãi vay cho các tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển công nghiệp văn hóa. Việt Nam rất cần “tổng đạo diễn” có khả năng kết nối những sản phẩm văn hóa trên tất cả các lĩnh vực sẵn có theo chuỗi để tăng sức ảnh hưởng và phát huy sự lan tỏa trên nhiều phương diện trong cùng một thời điểm.
Xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển công nghiệp văn hóa, truyền thông luôn đóng vai trò quan trọng. Không chỉ là công cụ đi trước tuyên truyền chính sách, bảo vệ quyền lợi chính đáng của những con người tham gia trong hệ thống công nghệ văn hóa, khuyến khích sự tham gia của các tầng lớp xã hội, lên án những hành vi vi phạm, ghi nhận những nỗ lực mà quan trọng hơn còn phát hiện và định hướng dư luận để công nghiệp văn hóa phát triển bền vững. Nếu khắc phục được các hạn chế đó và xâu chuỗi thành sản phẩm văn hóa tiêu biểu thì mục tiêu tăng trưởng công nghiệp văn hóa sẽ sớm thành hiện thực.

