ISSN-2815-5823
Huyền Nguyễn
Thứ tư, 06h02 24/04/2024

Tháo nút thắt tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn 

(KDPT) - Chuyên gia cho rằng, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 6-6,5% năm 2024 là khả thi. Chính phủ tiếp tục ưu tiên sử dụng công cụ chính sách tài khóa, cộng với sự hỗ trợ từ chính sách tiền tệ, thúc đẩy tổng cầu… để duy trì đà tăng trưởng cao, bền vững trong 2 năm tới.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, trong quý I/2024, dư nợ tín dụng tăng trưởng 0,26% so với cuối năm ngoái, tăng thấp hơn 1,73 điểm % so với cùng kỳ năm 2023. Đến hết tháng 1/2024, tín dụng kinh tế giảm 0,68% so với hồi cuối năm 2023, tháng 2 bắt đầu giảm chậm lại và tăng dương vào tháng 3. 

Tín dụng giảm trong 2 tháng đầu năm

Liên quan đến vấn đề này, TS. Nguyễn Thị Vĩnh Hà và Nhóm nghiên cứu Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra một số nhận định.

Trong 2 tháng đầu năm 2024, tín dụng giảm ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế, trừ bất động sản và kinh doanh chứng khoán. Tính đến hết tháng 2, tín dụng chảy vào bất động sản tăng 0,23%, tín dụng vào chứng khoán tăng 2,56% so với cuối năm 2023.

Tín dụng giảm ở hầu hết các ngành
Tín dụng giảm ở hầu hết các ngành

Dữ liệu thống kê 10 năm gần nhất cho thấy, tăng trưởng tín dụng theo tháng và theo quý của Việt Nam chưa từng bị thu hẹp so với cuối năm ngoái, dù tăng trưởng quý I hàng năm đều khá thấp do tính mùa vụ. 

Tăng trưởng tín dụng bình quân trước dịch Covid-19 (2016-2019) là 16,3%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng tín dụng bình quân 13,2%/năm giai đoạn 2020-2023. Tuy nhiên, riêng quý I/2022 có mức tăng trưởng thấp chỉ 1,31% do dãn cách xã hội thì tăng trưởng tín dụng quý I các năm 2021-2023 vẫn tiệm cận, thậm chí năm 2022 cao hơn nhiều mức trung bình của giai đoạn 2015-2024.

Việc lãi suất cho vay bình quân giảm đã không thúc đẩy tăng trưởng tín dụng như kỳ vọng. Ngân hàng Nhà nước quy định lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức từ 7,8-10,1%/năm.

Đối với lĩnh vực ưu tiên, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng VND khoảng 3,7%/năm, thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa 4%/năm theo quy định của NHNN.

VietinBank áp dụng lãi suất cho vay bình quân thấp nhất là 6,3%/năm, trong khi đó SaigonBank cho vay với mức lãi suất cao nhất là 9,9%/năm. Lãi suất cho vay trung bình của các ngân hàng (trừ những đơn vị không công bố) là 7,9%/năm. Các ngân hàng nhỏ thường có mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động bình quân cao hơn.

Nhận định các nút thắt 

Trong 4 tháng đầu năm 2024, tăng trưởng tín dụng gần như không mở rộng thêm trong bối cảnh lãi suất giảm, phản ánh sự khó khăn của doanh nghiệp vì ảnh hưởng bởi thị trường thế giới, trong nước và khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp.

Tăng trưởng tín dụng gần như không mở rộng thêm trong bối cảnh lãi suất giảm
Tăng trưởng tín dụng gần như không mở rộng thêm trong bối cảnh lãi suất giảm

Các nền kinh tế lớn trên toàn cầu trong quý I/2024 vẫn phục hồi rất chậm. Tại Mỹ, tăng trưởng GDP trong quý I/2024 dự kiến tăng 2,4% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 2,3% của quý IV/2023, đạt 2,5% cả năm 2023 và cao hơn mức tăng 1,9% năm 2022.

Tại EU, tăng trưởng quý I được dự báo khá khiêm tốn nhưng có cải thiện so với mức 0% trong quý IV/2023. Các nền kinh tế lớn có mức tăng yếu như Anh, Đức trong quý IV đã tăng trưởng âm 0,3%, ghi nhận tăng trưởng âm lần thứ 6 bắt đầu từ quý I/2020 đến quý IV/2023.

GDP trong quý I/2024 của Trung Quốc tăng 5,3%, tăng 5,2% cả năm 2023 từ mức tăng 3% năm 2022, tuy nhiên có sự phục hồi không đồng đều giữa các lĩnh vực. Tại Nhật Bản, tăng trưởng trong quý I là 0,54%, phục hồi so với mức tăng 0,1% của quý IV/2023 và mức tăng trưởng âm 0,8% của quý IV/2023, bước ra khỏi khủng hoảng kỹ thuật.

Ảnh hưởng từ nền kinh tế khó khăn trên toàn cầu

Kinh tế toàn cầu trong 4 tháng đầu năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn vì cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa những nước lớn. Căng thẳng địa chính trị giữa Israel - Hamas - Iran; Nga - Ukraine ngày càng leo thang, lo ngại lan rộng khiến giá vàng, giá năng lượng liên tiếp lập kỷ lục trong tháng 4. Hay như xung đột ở Biển Đỏ khiến giá cước logistics tăng lên 6.800 USD/container từ mức 750 USD/container

Cục Hàng hải Việt Nam cho hay, giá vận chuyển container từ Châu Á đi Châu Âu, Châu Mỹ hiện đã cao hơn khoảng 88% so với giá cước trước đại dịch. Trong đó, giá cước từ Việt Nam đi cảng khu vực Tây Mỹ hiện nay là 2.650 USD/container 40 feet, đi cảng khu vực Đông Mỹ là 3.900 USD/container 40 feet, đi Châu Âu là 4.900 USD/container 40 feet. Từ vụ việc tại Biển Đỏ đã làm dấy lên lo ngại gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, tác động đến lạm phát, kế hoạch đảo chiều chính sách tiền tệ.

Kết thúc quý I/2024, chỉ số USD Index (DXY) tăng gần 3% và tăng thêm 1-2 điểm % từ mức bình quân 104 điểm hồi cuối tháng 3, sau khi FED thông báo chưa thể bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất ít nhất cho đến tháng 6 tới đây vì lạm phát chưa giảm như kỳ vọng.

Tại Trung Quốc, áp lực tăng giá đồng USD khiến đồng Nhân dân tệ (CNY) mất giá mạnh nhất trong 4 năm qua khi kết quả giữ tỷ giá của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBoC) không như mong muốn. Hàng hóa tại thị trường này rẻ hơn, khiến các doanh nghiệp bước vào cuộc chiến giảm giá, làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam.

Xu hướng giảm tốc tăng trưởng tại Trung Quốc khiến cho tổng cầu ở nước này suy giảm. Hơn nữa còn có thể gây ra thách thức lớn cho Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang phụ thuộc vào xuất khẩu, hàng hóa mất đi lợi thế chi phí nguyên liệu thô rẻ khi nhu cầu tiêu dùng giảm sút.

Bên cạnh việc xuất khẩu giảm, giá nguyên liệu thô của đất nước tỷ dân cũng rẻ hơn, thúc đẩy nhập khẩu của Việt Nam. Tình trạng dư cung của Trung Quốc đã thúc đẩy thương mại nhập khẩu, thương mại tiểu ngạch và chính ngạch giữa 2 nước. Hàng hóa giá rẻ Trung Quốc tràn ngập tại Việt Nam đã và đang làm suy yếu sức khỏe doanh nghiệp nội địa, làm mất đi thị phần ngay trên sân nhà./.

Kinhdoanhvaphattrien.vn | 05/11/2023

eMagazine
kinhdoanhvaphattrien.vn | 14/06/2024